Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

BÀI HỌC VỀ CHÂN LÝ CUỘC ĐỜI.

BÀI HỌC VỀ CHÂN LÝ CUỘC ĐỜI.

Từ khi bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống của con người, lúc ấy còn rất nhỏ nhưng tôi đã tự đặt ra cho mình một câu hỏi lớn, câu hỏi ấy là: Mục đích của cuộc đời con người là gì? Rồi bao năm tháng cứ trôi qua trên mái đầu xanh, vẫn không có ai giúp giải đáp cho tôi câu hỏi đó. Thế rồi tôi phải tự mình kiến giải, lập luận theo những hiểu biết và kinh nghiệm của cá nhân. Những hiểu biết tuy sơ khai nhưng cũng đã có những điều gần như là chân lý, rằng: Mục đích của cuộc đời con người không chỉ dừng lại ở tiền tài, vật chất, danh lợi, giàu sang, hạnh phúc gia đình và con cái, mà cao hơn thế nữa là có được một tâm hồn thanh thản, an lạc và tự tại. Cuối cùng phải mất hơn hai mươi năm sau tôi mới có câu trả lời rõ ràng bằng chân lý của một bậc đại giác ngộ - Đức Phật Thích Ca.
Nếu chúng ta coi hạnh phúc là mục đích tối hậu của cuộc sống con người thì thật sự đó là một sai lầm quá lớn, quá nghiêm trọng. Thật sự đúng là như vậy. Tùy hoàn cảnh mỗi người mà hạnh phúc được hiểu theo một cách khác nhau, nhưng tựu chung lại thì hạnh phúc được tôi định nghĩa như sau:
“Hạnh phúc là sự thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của con người”.
Nhà hiền triết Platon cũng từng nói:
“Nếu thỏa mãn vật chất là hạnh phúc thì ta có thể xem con bò là hạnh phúc”.
Tất cả chúng ta ai cũng đều biết rằng nhu cầu và lòng ham muốn được thỏa mãn của con người thì không bao giờ có điểm dừng, nó luôn thay đổi và đòi hỏi ngày một cao hơn. Hai định nghĩa về hạnh phúc trên đây cũng cho ta thấy rõ bản chất của hạnh phúc không bao hàm nghĩa an lạc và giải thoát. Bởi vì để được giải thoát là phải biết buông xả. Chỉ có buông xả mới được giải thoát. Giải thoát là thoát khỏi mọi ràng buộc về vật chất và mọi sự đau khổ về thân thể và tâm hồn của mình. Vậy buông xả là thế nào và tại sao phải buông xả? 
Buông xả là xả bỏ những nhu cầu đòi hỏi về vật chất, thân xác cũng như tinh thần của một người bình thường trong thế gian. Vì không buông xả thì sẽ mãi dính mắc, mà dính mắc là đau khổ, là không hạnh phúc. Ở đời không ai là không coi trọng vật chất, nhưng mấy ai hiểu rằng vật chất mới chỉ là thứ phương tiện để có thể đem đến cho con người sự hạnh phúc mà thôi. Còn nữa, thân mạng ta, rồi những người thân của ta nữa, cả mọi mặt tinh thần tình cảm là những điều mà ai cũng quý, cũng trân trọng. Có ai không đau khổ khi phải mang bệnh trong thân hoặc khi phải từ biệt người thân của mình không? Có một sự thật phủ phàng là: Tất cả mọi điều trong cuộc sống này chỉ là vô thường mà thôi. Vậy mà con người cứ mãi bị dính mắc vào chúng nên phải chịu bao nhiêu khổ đau, cay đắng. Họ đau khổ mà cứ ngỡ mình hạnh phúc, hoặc cố tình giả bộ tỏ ra mình hạnh phúc. Hạnh phúc, nếu ai coi đó là thứ cảm xúc thật thì thử hỏi: Cảm giác hạnh phúc đó trải qua cuộc đời mình được bao lâu và cảm xúc đau khổ ở trong mình là bao lâu? Chúng ta hãy thử hình dung cảm xúc thăng hoa của một người chiến thắng trên bục vinh quang hay trong sự khoái lạc của nhục dục sẽ duy trì được trong thời gian là bao lâu và họ phải đánh đổi những gì để có được những phút giây ấy? Rồi những hệ lụy đằng sau nó ra sao? Giả sử một người nào đó cả một đời họ được sống trên tột đỉnh giàu sang, thành công và hạnh phúc đi nữa, thì ngay trong những phút giây hay tháng ngày hạnh phúc đó họ vẫn luôn đối mặt với muôn ngàn cực nhọc, phiền muộn, lo lắng và đau khổ rồi. Trong hạnh phúc đã có sẵn khổ đau, và những nỗi khổ đau ấy là trùng trùng lớp lớp nói tiếp nhau không bao giờ ngừng lại. Và cuối cùng sự đau khổ khủng khiếp nhất như bao người khác vẫn đến với họ: Đó là cái chết. Như vậy, để thoát khỏi khổ đau không có con đường nào khác hơn là buông xả. Thật ra dù ít hay nhiều thì ai cũng hiểu biết điều đó, nhưng để thực hiện nó thì không dễ mấy người làm được. Bởi vì dục vọng là vấn đề khiến mọi người không thể cưỡng lại được. Bên cạnh đó còn có nghĩa vụ, trách nhiệm đối với những người xung quanh mình nữa.

Thi sỹ Xuân Diệu sớm nhìn thấy điều đó nên ông đã thở than rằng: "Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua/Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ giàvà "Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt", hay "Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt" cũng với nghĩa như vậy. Danh vọng, quyền lực, tiền bạc vật chất có giữ được họ ở lại mãi trên thế gian này không? Vợ chồng, con cái có cứu họ ở lại mãi trên thế gian này được không? Hoàn toàn là không thể. Có chăng chỉ là một sự níu kéo tạm thời như một nguồn động viên an ủi nhỏ bé mà thôi. Những ngày dài trên giường bệnh, chúng ta phải đối diện với một sự thật: Nỗi đau đớn đến tột cùng về thân thể và tinh thần. Cuối cùng thì chúng ta vẫn phải vẫy tay chào cuộc đời mà không thể mang theo về bên mình bất cứ thứ gì, kể cả về vật chất, tinh thần hay cả những người thân yêu của mình. Người nào thành công, giàu sang và hạnh phúc nhiều thì sự đau khổ càng vây lấy họ càng nhiều gấp bội. Khi phải xa đời có bao nhiêu điều khiến họ sẽ phải tiếc nuối: danh vọng, quyền lực, sự nghiệp, tài sản, người thân, bạn bè, cuộc sống, vv và vv… Vậy ai sẽ cứu họ ra khỏi những nỗi đau đớn tột cùng ấy? Câu trả lời chỉ có thể là: Chỉ có ta mới tự cứu được chính mình mà thôi! Vậy ta phải làm sao để tự cứu mình? Đó là câu hỏi lớn tôi từng đặt ra và giờ đây tôi đã tìm ra lời giải đáp. Buông xả là câu trả lời của tôi.
Từ nhỏ tôi đã hiểu giá trị vật chất và đề cao giá trị tinh thần. Đó là điều kiện và cơ sở quan trọng để giờ đây tôi biết buông xả một cách rất dễ dàng. Cho đến bây giờ, khi được đến với Phật pháp và tìm hiểu những chân lý của Đức Phật Thích Ca thì tôi mới có câu trả lời một cách chắc chắn rằng: Mục đích cuối cùng của cuộc sống con người không phải là những giá trị vật chất mà là sự giải thoát. Chỉ có giải thoát mới giúp con người thoát khỏi mọi ràng buộc đau khổ về vật chất và tinh thần ở thế gian này mà thôi. Để được giải thoát, không có con đường nào khác ngoài con đường buông xả. Đó là con đường vừa khó vừa khổ nhưng không phải là không thể thực hiện được. Chỉ cần sự hiểu biết và lòng quyết tâm ở chính mỗi người mà thôi. Và khi thực hiện được điều đó thì ta mới thật sự sống trong hạnh phúc, an lạc, tự tại và làm chủ sinh tử, nghĩa là ta được giải thoát trong từng giây phút của đời sống hiện tại. Xưa Đức Phật Thích Ca vốn là một Hoàng Thái Tử, Ngài có những điều kiện và yếu tố tốt đẹp nhất trên thế gian này: Tố chất thông minh, mạnh khỏe, đẹp đẽ, xuất thân từ dòng dõi quý tộc… nhưng Ngài đã rủ bỏ tất cả mọi thứ: địa vị, danh vọng, tài sản, vợ con, gia tộc… như bỏ một chiếc dép rách rồi trốn nhà để đi tu vì Ngài biết rõ tất cả những thứ ấy chỉ là những sợi dây ràng buộc con người vào khổ đau thêm mà thôi. Ngài chọn cuộc sống lấy rừng làm nhà, lấy gốc cây làm giường và một nghề thấp nhất trong xã hội: Nghề ăn xin. Ngài thực hiện hạnh “Xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo” quyết từ bỏ cả thân mạng mình tìm ra cho bằng được con đường giải thoát và làm chủ sinh tử để cứu bản thân mình và nhân loại. Làm sao để buông xả? Hiểu biết mọi điều trên thế gian này đều là Vô ngã – Vô thường – Khổ, ấy là câu trả lời.
Vô ngã là gì? Vô thường là gì? Là mọi thứ trên thế gian này dù thuộc về phương diện vật chất hay phi vật chất đều chẳng có gì là ổn định thật chắc chắn và trường tồn mãi mãi. Từ những cung điện pháo đài nguy nga của các đế chế, đến Vạn lý trường thành của Tần Thủy Hoàng, hay đến cả hành tinh, vũ trụ này cũng không nằm ngoài sự chi phối quy luật của vô thường. Đem những thứ đó so sánh với cái thân mạng bé nhỏ của ta thì thấy mình mới nhỏ bé vô cùng, chỉ như hạt bụi trong không gian vậy. Và khi ta đem so sánh thời gian của một đời người (cứ cho là 100 năm) với cái vô cùng của thời gian thì mới thấy đời người thật ngắn ngủi, chỉ như ánh chớp trong cơn giông hay như vệt sao băng xẹt ngang cuối trời mà thôi. Về phương diện tinh thần, có bao giờ bạn ngừng suy nghĩ không? Vui đó rồi có thể lại buồn ngay, thanh thản phút giây rồi thấy ngay sầu muộn. Nếu tinh thần là thường (không thay đổi, không vô thường) thì sao bạn không giữ mãi được cảm giác thăng hoa và hạnh phúc? Nếu thân mạng bạn là thường sao nó bị bệnh tật? Vợ chồng, cha mẹ, con cái của bạn là thường sao họ vẫn thay đổi tâm tính và thể trạng từng phút từng giây, có khi là hư hỏng, bệnh tật, mất mát và chết chóc tang thương nữa. Có bao giờ theo được ý bạn mong muốn đâu. Nếu cuộc đời này là vô thường thì làm sao đứa trẻ có thể phát triển về thể lực và trí tuệ được. Vô thường là vậy, là sinh và diệt. Còn sinh và diệt là cuộc đời còn khổ.
Khổ thế nào? Khổ là một sự thật mà một đứa trẻ cũng phải thừa nhận. Cuộc đời có 8 nỗi khổ chính sau đây: Sinh khổ (Thai nhi từ lúc trong bụng mẹ cho đến khi ra ngoài chịu nhiều cực khổ; lớn lên một chút thì lo học hành, sự nghiệp, xây dựng gia đình, mưu sinh cuộc sống…) – Già khổ (Má hóp, da nhăn, tóc bạc, răng rụng, trí nhớ kém, sức khỏe giảm,…) – Bệnh khổ (Thân đau bệnh thì ai cũng biết khổ như thế nào rồi) – Chết khổ (Không ai không sợ cái chết, trừ những người làm chủ được sinh tử như Phật – A la hán) – Ái biệt ly khổ (Yêu thương nhau mà phải xa cách là khổ…) – Cầu bất đắc khổ (Mong cầu mà không được toại nguyện là khổ…) – Oán tắng hội khổ (Thù oán ghét nhau mà phải gặp nhau,…) – Ngũ ấm xí thịnh khổ (Mắt phải nhìn những thứ không ưa nhìn, tai phải nghe những âm thanh khó chịu, mũi phải ngửi mùi hôi thối, miệng lưỡi phải ăn nếm vị đắng cay, thân phải tiếp xúc với môi trường nóng lạnh hay vật thô ráp không như ý,…).
Hầu hết những con người trong thế gian này đều thật hèn hạ, điên đảo và vô minh. Họ chỉ biết ham thích sống trong mọi cám dỗ vật chất và chạy theo dục lạc thế gian mà sợ hãi trước những khổ đau, nhất là khi đối diện với cái chết. Nói đến cái chết và sự đau khổ thì hầu hết người ta sợ hãi và trốn tránh. Người ta sợ hãi vì người ta thiếu hiểu biết, lòng đầy dục lạc, tham đắm và hèn nhát. Nếu họ có hiểu biết mà vẫn sợ hãi là vì họ hiểu biết không đến nơi đến chốn, họ không hiểu chân lý mà chỉ hiểu theo cách hiểu chung của người thế gian. Nếu họ đã hiểu chân lý mà vẫn không dám buông xả là vì họ không quyết tâm. Họ quên rằng họ đang sống nghĩa là họ đang chết từng giờ từng khắc, từng phút từng giây. Sống một ngày là đã chết đi một ngày bởi ta đang tiến gần hơn đến cái chết. Chưa nói đến những biến cố bất thường và bất ngờ như thiên tai, tại nạn, chiến tranh, bệnh dịch,... có thể cướp đi mạng sống của chúng ta bất cứ lúc nào. Bởi Sống – Chết vốn là một cặp phạm trù.
Đức Phật sau khi thành đạo, Ngài đã không vào Niết bàn ngay, vì thương chúng sinh đang vẫy vùng trong biển khổ luân hồi nên Ngài đã ở lại thế gian để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ ấy bằng những gì mình chứng ngộ được. Chủ trương của Ngài là không sinh, vì Ngài biết rõ có sinh thì ắt phải có diệt, mà diệt là đau khổ. Vậy để đoạn tuyệt hết đau khổ thì phải cắt đứt sinh. Sinh ở đây cần phải hiểu thật rộng: sinh khởi, sinh sống, sinh mạng, sinh đẻ, sinh hoạt, vv… Sinh từ đâu mà ra? Dục là câu trả lời. Dục ở đây cũng cần hiểu rộng: dục vọng, ham muốn, tình dục, vv… Dục có một sức lôi cuốn mọi sinh vật trên thế gian này một cách vô cùng mạnh mẽ. Từ loài vật nhỏ bé như côn trùng cho đến loài người, càng tiến hóa thì dục càng mạnh mẽ hơn. Con người ta ai cũng ham tiền tài vật chất, ham quyền lực danh vọng, ham sắc đẹp, ham ăn, ham ngủ, ham tình dục, ham đủ thứ trên đời. Chỉ có Phật và bậc Thánh nhân là không ham bất cứ thứ gì.
Trưởng lão Thích Thông Lạc, thế danh là Lê Ngọc An – một tù nhân chính trị từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm tra tấn chết lên chết xuống nhiều lần mà vẫn một mực trong thành với Đảng. Sau khi chứng được quả vị A-La-Hán (Bậc Thánh nhân) thầy Thích Thông lạc đã đến xin phép sư phụ của mình là thầy Thích Thanh Từ được xả bỏ báo thân của đi vào Niết bàn, nhưng sư phụ không đồng ý nên thầy tôi đã trụ lại thế gian để cùng sư phụ gầy dựng lại chánh pháp của Đức Phật Thích Ca mà hơn 2000 năm nay đã bị lấp đầy bởi một rừng những kinh sách phát triển theo kiến giải, tưởng giải của những vị thầy tổ tu không đắc đạo xưa kia làm Phật pháp bị méo mó, sai lệch đi rất nhiều.
Tôi may mắn nhờ gặp được chân lý của Đức Phật Thích Ca mà Thầy tôi đã chỉ dạy nên giờ đây tôi thật sự đã và đang từng bước đi trên lộ trình của sự giải thoát. Tôi đã thật sự không còn chút sợ hãi trước cái chết và sẵn sàng đón nhận nó đến với mình bất cứ lúc nào. Giờ đây tôi thật sự đã không còn đau khổ về tâm, dù thân này có thể một mai bị bệnh tình hành hạ. Dù tôi không đủ điều kiện sức khỏe để tu tập và làm chủ được sinh tử thì tôi cũng thật sự hài lòng với điều mà tôi đạt được. Có lẽ phải hàng triệu người may chăng mới có một người đạt được điều đó. Tôi thấy mình thật hạnh phúc, một thứ hạnh phúc không thể diễn tả và không thể so sánh với bất cứ niềm hạnh phúc nào của người thế gian.
Trong cuộc sống hằng ngày chung quanh mình tôi gặp rất nhiều người tài giỏi, thông minh, nhiều trải nghiệm, nhưng không hiểu sao họ vẫn luôn sợ hãi, đau khổ và tâm đầy phiền não. Tôi thầm thắc mắc và biết họ biện cớ vì cuộc sống gia đình, con cái và sự nghiệp. Điều đó có thật chính đáng không? Trên đây là bài học vỡ lòng về chân lý cuộc đời dành cho mọi người và đây cũng chỉ mới là một vài điều rất nhỏ trong nhận thức mà tôi có thể chia sẻ với mọi người. Nhưng dù sao thì với chừng ấy tôi cũng hy vọng sẽ là một lời nhắc nhở những người đọc được những trang viết này hãy thay đổi cách nhìn về cuộc sống của mình. Để rồi từ đó biết cách sống một cuộc sống sao cho có ích cho bản thân, đừng uổng phí cuộc đời trong dục lạc thế gian để rồi phải chịu bao nhiêu cay đắng khổ đau và mãi luân hồi sinh tử ở trần gian này nữa.

Minh Bảo.

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Con người từ đâu mà đến


Đã là con người sống trong thế gian này, cũng có một giây phút nào đó chúng ta thắc mắc là mình từ đâu mà đến? Và mình sẽ đi về đâu? Tại sao có kẻ thì xinh đẹp, còn có người lại xấu xí? Có người thì khỏe mạnh, sao lại có kẻ bị tật nguyền? Ai là người chịu trách nhiệm cho tất cả những việc này?

Vậy trước hết chúng ta phải tìm hiểu xem con người từ đâu mà có?

Những tôn giáo thờ Thượng đế, thì con người là sản phẩm của Ngài. Chính Thượng đế là đấng Tối cao, Toàn năng, Toàn thiện và Toàn trí, chẳng những đã tạo ra con người, mà còn sáng tạo ra cả thế gian và vũ trụ nữa. Lý luận như vậy mới nghe qua thì thật là hữu lý, nhưng xét cho kỹ thì bất cứ cái gì trên thế gian nầy cũng đều phải có thủy có chung, có nhân có quả.  Nói thế có nghĩa là gì? Nếu nói Thượng đế đã sáng tạo ra con người, thì ai đã sáng tạo ra Thượng đế? Thượng đế từ đâu mà ra? Không có nhân thì làm sao có quả?

Còn Phật giáo thì trả lời như thế nào?

Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi muốn nói đến thuyết “Thập nhị nhân duyên” của Đức Phật. Vậy thế nào gọi là nhân duyên? Nhân có nghĩa là nguyên nhân, dùng để chỉ những vật chính làm nhân và chính nó trực tiếp sinh ra một vật khác. Chẳng hạn như hạt lúa là nhân sinh ra cây lúa. Còn duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật có tính cách trợ giúp dù trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được thành. Chẳng hạn như phân bón, ánh sáng, nước và công vun bón là trợ duyên cho hạt lúa trở thành cây lúa. Mười hai nhân duyên đó là:

1)   Vô minh: có nghĩa là không tỏ ngộ chân tâm, hoặc là hiểu biết các pháp không đúng như thật do đó mà sinh ra mê lầm. Cái thật thì cho là giả, giả thì cho là thật, điên đảo hư vọng chấp ngã. Trong 12 nhân duyên, thì vô minh là lợi hại nhất.

2)   Hành: là hành động, tạo tác. Do vô minh phiền não nổi lên, làm cho thân, khẩu, ý tác tạo ra các nghiệp lành hay dữ.

3)   Thức: là thần thức. Vì thân, khẩu, ý tác tạo những nghiệp lành hay dữ nên khi chết rồi, các nghiệp đi lãnh thọ quả báo khổ hay vui ở đời sau.

4)   Danh sắc: là thân tâm. Trong thân thể của con người, thì phần tinh thần (tâm) không có hình sắc nên gọi là Danh, còn phần thể chất có hình sắc thì gọi là Sắc.

5)   Lục nhập: mỗi khi lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) thì lục thức được phát sinh và sự thu nhập lục thức này gọi là lục nhập.

6)   Xúc: là sự tiếp xúc của lục căn với lục trần, như tai nghe tiếng nói, thân cảm thấy nóng lạnh…

7)   Thọ: là thọ lãnh, khi lục căn tiếp xúc với lục trần, thì thọ lãnh những cảnh vui hay cảnh buồn.

8)   Ái: là ưa muốn. khi thọ lãnh cảnh vui, thì sinh lòng tham; khi gặp cảnh khổ thì sinh tâm sân hận, buồn rầu. Đây là cái động cơ thúc đẩy thân, khẩu, ý tạo tác ra những nghiệp.

9) Thủ: là giữ lấy. Nếu gặp cảnh tốt thì tham cầu, gặp cảnh xấu thì phát sinh sân, si để lìa bỏ. Đây là nguyên nhân tạo ra nghiệp sinh tử.

10) Hữu: là có. Bởi vì đời này chính mình đã tạo ra nhân lành hay nhân dữ, thì đời sau phải chịu quả khổ hay vui mà mình phải thọ lãnh.

11)  Sinh: là sinh ra. Do ái, thủ, hữu làm nhân hiện tại tạo ra các nghiệp, vì vậy phải sinh ra đời sau để thọ quả báo.

12) Lão, Tử: già và chết. Đã có sinh, tất phải chịu khổ già rồi chết.

Khi còn ở trên thế gian này, thì vô minh đã làm cho tâm của chúng ta bị mê muội để không còn sáng suốt phân biệt đâu là thật, đâu là giả và nhận biết sai lầm về con người và vạn vật trong vũ trụ nầy. Nhận biết sai lầm chính là cội nguồn phát sinh ra tam độc Tham-Sân-Si để tạo ra nghiệp mà dẫn họ đi lên, đi xuống lang thang lẩn thẩn trong sinh tử Luân hồi. Những nghiệp báo này có khi thiện, có khi ác. Khi chúng ta qua đời, thì những nghiệp báo này đi theo chúng ta như hình với bóng. Tất cả những nghiệp báo này được gom góp lại  và được gọi là “nghiệp thức”. Thân tứ đại của chúng ta thì trở về với tứ đại, còn nghiệp thức thì tiếp tục bám theo thần thức (linh hồn của những tôn giáo khác).

Một khi chúng ta chết, ngũ uẩn tan rã và nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai. Nhưng dẫn dắt cái gì?  Như chúng ta đã biết Lục thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức) thì sinh diệt vô thường, biến chuyển không ngừng, thì mặc dầu nghiệp thức còn đó, nhưng lấy cái gì gìn giữ những nghiệp thức đó để chuyển qua đời tương lai?

Trong thuyết nghiệp cảm duyên khởi, chính Đức Phật đã khẳng định rằng một khi con người gây ra bất cứ một nghiệp thức nào thì nó sẽ được bắt lấy và gìn giữ mãi mãi trong Tàng thức từ đời nầy sang đời khác, không bao giờ mất. Thí dụ chúng ta vừa tạo một ác nghiệp thì Mạt-Na thức tức thì ghi nhận hiện tượng nầy và sau đó chuyển cái ác nghiệp nầy vào lưu giữ lại trong A-Lại-Da thức (Tàng thức). Duy thức luận gọi Mạt-Na thức là thức thứ bảy và A-Lại-Da thức là thức thứ tám sau lục thức. Có một điểm khác biệt là lục thức: nhãn thức, nhỉ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức thì sinh diệt tức là nay có mai không, không có gì quan trọng. Còn Mạt-Na thức và A-Lại-Da thức thì không bao giờ mất.

Hễ con người còn tạo nghiệp thì nó còn giữ tất cả những chủng tử nầy đến khi hội đủ nhân duyên thì nó sẽ phát khởi tạo thành quả báo và nó chính là cái vui hay cái khổ của con người trong đời nầy. Vì thế tiến trình nầy còn được gọi là “kết nối đời sau”. Tại sao? Con người do phiền não mà tạo nên nghiệp và vì tạo nghiệp nên mới tiếp nối đời sau để thọ khổ. Nếu không có A-Lại-Da thức nầy để nắm giữ việc “kết nối đời sau” thì chúng ta một khi chết rồi thì mất luôn, không còn gì cả.  Chính Mạt-Na thức và A-Lại-Da thức tự nó mang tính chất của cái ngã.  Cái ngã vô hình để gìn giữ lấy tất cả những nghiệp thức mà chúng ta đã tạo ra. Thêm nữa Mạt-Na thức và A-Lại-Da thức có khả năng chất chứa những chủng tử của nghiệp thức đến vô tận và kéo từ đời này sang đời khác, tiếp diễn không ngừng.

Nó chính là nền móng của nhân quả luân hồi, mà cũng là căn nguyên của giải thoát. Bởi vì trong A-Lại-Da thức có đủ chủng tử hữu lậu và chủng tử vô lậu. Chủng tử hữu lậu tức là phần phước đức chính là những hạt giống phát sinh ra những hiện tượng vui khổ của con người. Còn chủng tử vô lậu tức là phân công đức có khả năng không để cho tâm vọng động tức là thanh tịnh tâm và giúp cho chúng ta tìm đến sự giải thoát.

Vậy con người từ đâu mà có?

Khi có sự giao hợp giữa nam và nữ, thì Thân Trung Ấm (thần thức) của người chết được thác sinh vào thai mẹ để làm người. Trong thai mẹ, gom góp tinh huyết làm nhục thể và sau đó tâm thức cùng nhục thể  hòa hợp với nhau gọi là Danh Sắc (Danh là tâm thức, sắc là nhục thể). Với thời gian, Danh Sắc lần lần tượng đủ lục căn (mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý). Khi thai nhi được sinh ra, thì lục căn của hài nhi bắt đầu tiếp xúc với lục trần, do đó hài nhi biết nóng, lạnh, đau, êm… Bởi vì sự xúc chạm này, mà tâm của hài nhi dần dần phát sinh ra sự phân biệt rồi từ đó có những cảm giác thọ vui, hay khổ… Chính sự cảm thọ vui, khổ này mà phát sinh ra những khởi niệm ưa ghét. Cũng chính vì sự tham ái đó nên nó cố bám vào cái hay cái tốt, cái nó ưa thích và dĩ nhiên vì muốn thỏa mãn những chỗ ưa thích đó, nên nó tạo ra nghiệp căn. Mà tạo nghiệp thì phải chịu quả báo.

Đã có sinh, thì chúng sẽ già và sau cùng là chết. Như thế, một khi chúng ta tạo nhân trong quá khứ, thì nó sẽ là quả của hiện tại và quả của hiện tại sẽ là nhân cho quả của tương lai. Con người cứ như thế mà xoay vần mãi mãi không ngừng, đời nầy tan thì đời khác đến. Từ đấy mà suy ra thì chúng ta thấy rằng con người chẳng những sống một đời trong hiện tại này, mà trong quá khứ đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc đời rồi. Và sau nầy, trong tương lai chúng ta sẽ còn nối tiếp biết bao cuộc sống khác.

Nói một cách khác, chết là để thay đổi thân mới và sinh là để thế thân cũ. Nó xoay vần nối vòng sinh và chết, chết và sinh, thay thân cũ lấy thân mới, rồi lấy thân mới để thế thân cũ, như chúng ta thay đổi áo quần hàng ngày. Vậy thân thể của chúng ta ngày nay chỉ là một thân trong số vô lượng thân. Chúng ta đã thay bỏ không biết bao nhiêu thân về trước và sau này chúng ta cũng sẽ thay đổi không biết bao nhiêu thân nữa.

Khi đã hiểu sinh tử như thế thì chúng ta, đối với sự sinh không tham cầu bởi vì nó là vô thường không lâu không bền và đối với cái chết không sợ hãi bởi vì chết không phải mất hẳn đi, mà chỉ là sự thay cũ đổi mới mà thôi.

Sự sinh hiện tại, chỉ là một lần sinh trong vô lượng lần sinh, và sự chết ngày nay chỉ là một cái chết trong vô lượng lần chết mà thôi. Chúng ta đã thấy mười hai nhân duyên chẳng khác nào như mười hai vòng xích nối liền nhau làm thành một chuỗi xích, không biết đâu là đầu, đâu là cuối. Nếu cắt được một vòng xích, thì chúng ta sẽ phá được chuỗi xích nầy. Theo giáo lý nhà Phật thì  sinh tử luân hồi là hiện tiền của nghiệp báo, là oan gia, là thê lương đối với con người. Nhưng làm thế nào để trừ phá cái vòng xích oan nghiệt kia? Trong mười hai nhân duyên, thì chữ “Ái” là quan trọng nhất. Ái là luyến ái, là cội nguồn của tham dục. Vì luyến ái nên chúng ta làm mọi thứ để giữ lấy (thủ) cho mình, rồi sau đó thủ sẽ sinh ra hữu (có). Vậy nếu không có ái thì không có hữu, không có hữu thì không có sinh, không có sinh thì không có lão tử và cuối cùng thì không còn đau khổ luân hồi.

Nhưng tại sao chúng ta lại đầu thai vào làm con của cha mẹ chúng ta mà không vào gia đình của người khác?

Sự quan hệ giữa cha mẹ và chúng ta có bốn loại: Báo ơn, Báo oán, Đòi nợ, và Trả nợ.

Trong đời quá khứ, nếu chúng ta kết duyên với cha mẹ của chúng ta, thì đời này chúng ta sẽ gặp lại họ. Nếu là ác duyên, thì chúng ta đến để đòi nợ và đôi khi còn tệ hại hơn nữa là chúng ta đến để báo oán bởi vì kiếp trước họ đã gây ra đau khổ cho chúng ta. Nợ càng lớn thì chúng ta đòi càng nhiều. Vì thế cổ nhân thường nói đây là oan gia nghiệp báo. Thật là chí lý. Còn nếu là phước duyên, thì chúng ta đến để báo ơn, để đền đáp lại những gì họ đã giúp đỡ cho chúng ta trong tiền kiếp. Đây chính là cảnh”phụ từ, tử hiếu”.

Có người lại thắc mắc là tại sao ở đời có người thì đẹp đẻ, còn có kẻ bị tật nguyền?

Trong kinh Thiên Sinh, Đức Phật đã dạy rằng: “Khi còn sinh tiền, thân, khẩu, ý thì thọ điều lành hay gây ra điều dữ. Nếu tạo nghiệp lành, thì cảm thân tốt đẹp; nhân dữ chiêu cảm quả xấu xa, do từ tâm tạo ra rồi tự thọ. Nếu chúng sinh muốn được thân thể tốt đẹp khỏe mạnh để hưởng hạnh phúc, thì phải lấy năm giới cấm làm căn bản”.

Muốn được thân thể khỏe mạnh, sống lâu trong tương lai, thì đừng bao giờ sát sinh. Muốn có giọng nói điều hòa trong trẻo, thì đừng nên vọng ngữ. Muốn thân hình được đoan trang, đẹp đẻ, thì đừng đụng đến việc tà dâm. Muốn gia đình được ấm no thì đừng trộm cắp, gian tham.

Lúc bình sinh, thì thân, khẩu, ý của chúng ta tạo tác lắm điều ác nghiệp, thì quả tương lai chúng ta phải gánh chịu những hậu quả này. Một trong những quả báo nhản tiền là thân thể của chúng ta trở thành xấu xí. Và đôi khi nếu ác nghiệp này thuộc loại nặng, thì chúng ta có thể bị tật nguyền. Còn kẻ kia thì họ biết giữ gìn trì giới, làm lành tránh dữ, thì đời sau chắc chắn họ sẽ được giàu sang phú quý, và thân thể thì xinh đẹp. Nên nhớ rằng chúng ta tạo nghiệp nhân gì thì tự tâm sẽ gìn giữ nghiệp nhân ấy và sẽ chuyển hiện ra quả đời sau.

Con người cũng như mọi vật, sở dĩ có là do nhân duyên hòa hợp. Con người chỉ là một cái tên, là một giả danh để gọi cái kết hợp của ngũ uẩn. Khi đủ nhân duyên chúng nó tập hợp lại thì gọi là sống, khi nó tan rã thì là chết. Chính ngũ uẩn cũng vô thường và không thuần nhất.

Vô thường mà tưởng là thường, không ngã mà tưởng là có ngã. Đó là sự si mê lớn nhất của con người và chính do cái si mê này đã làm cho con người đang đau khổ lại càng khổ đau thêm.

Sau cùng, chúng ta thấy luật nhân quả đóng một vai trò tối quan trọng trong vấn đề sinh tử của con người. Thậy vậy, thân hiện giờ của chúng ta chính là cái quả của nghiệp thân mà mình đã tạo ra từ trườc. Và thân sẽ có sau này là tùy theo sự tạo nghiệp bây giờ. Khi mà đã hiểu như thế, thì cuộc đời của chúng ta hiện tại dầu có khổ đau hay sung sướng thì cũng chỉ là cái quả của cái nhân đời trước mà thôi. Có than khóc hay vui buồn cũng chỉ thế, không thể thay đổi được gì. Có thay đổi chăng là chúng ta phải cố gắng giữ gìn trì giới, phát huy tâm Bồ-đề, tạo dựng thập thiện nghiệp, thì chúng ta đã tạo được cái nhân lành hiện tại. Do đó cái quả tương lai chắc chắn sẽ vô cùng khả quan và viên mãn.

Phật dạy rằng: “Niết Bàn là đối với sinh tử mà có, trong tánh Phật, sinh tử đã không, cho nên Niết Bàn cũng như mộng”.

“Người phàm phu nhìn nhận tứ đại sắc thân cho là của Ta và tham sống sợ chết thì gọi là ngã tướng. Lòng còn thương ghét, ý chẳng bình đẳng thì gọi là nhân tướng. Niệm tưởng theo cái lòng muốn của phàm phu nó dẫn dắt chẳng cần giải thoát thì gọi là chúng sinh tướng.  Tâm thức chưa diệt trừ, nghiệp chướng thường phát động, chẳng ngộ được cái pháp vô sinh chân không thật tánh thì gọi là thọ giả tướng”.