Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

NHÂN QUẢ THẢO MỘC


BÀI KIỂM TRA CHÁNH TRI KIẾN
SỐ 2

NHÂN QUẢ THẢO MỘC
—o0o—

1 - Giải thích từ Nhân quả thảo mộc.
2 - Hãy luận về quá trình diễn biến về Nhân quả thảo mộc.

ĐÁP ÁN THEO DÀN BÀI

I.            DUYÊN HỢP
1.     Môi trường sống: Điều kiện thích nghi và phù hợp với từng loài (sự tương ưng duyên hợp của nhân quả).
a.     Dưới nước.
b.     Dưới bùn lầy.
c.      Nơi ẩm thấp.
d.     Nơi đồng bằng.
e.      Trên đồi núi.
f.       …v.v…
à Nói đến loài thảo mộc thì chúng ta thấy từ thấp đến cao, ở trên đồi núi tới đáy biển hay bất kỳ một nơi nào… chúng cũng thích nghi và phù hợp với môi trường chúng hiện đang sinh sống. Điều đó cho thấy nơi nào có sự sống là nơi đó có thảo mộc.

2.     Thiên nhiên: Điều kiện tự nhiên trong vũ trụ không có nhu cầu tuyệt đối.
a.     Đất: Từ nơi ẩm ướt tới khô cằn.
b.     Nước: Từ sông ngòi đến mưa và sương mù.
c.      Gió: Một trong những phương tiện kết thành Nhân và Quả.
d.     Lửa: Nhiệt độ cần thiết trong vũ trụ để tạo thành Nhân và Quả.
à Nguồn cung cấp dưỡng chất để duy trì sự sống của thảo mộc, là vai trò quan trọng không thể thiếu đối với sự sống trên hành tinh này.

3.     Động vật và côn trùng: Một trong những điều kiện hình thành nhân ban đầu.
Ngoài ra còn tạo chất dinh dưỡng để nuôi sống thảo mộc.

4.     Con người: Sử dụng kiến thức khoa học để tạo Nhân.
à Rất thông minh biết cách di chuyển Nhân, tạo môi trường sống mới và chế biến nhân tạo hoàn hảo.

II.         ĐẶC TƯỚNG
1.     Hình dạng:
a.     Sự khác biệt của nhiều loài.
b.     Sự khác biệt của cùng loài.
c.      Sự khác biệt trên cùng một cây.
d.     Sự khác biệt của nhân trên cùng một quả.

2.     Màu sắc:
a.     Sự khác biệt của nhiều loài.
b.     Sự khác biệt của cùng loài.
c.      Sự khác biệt trên cùng một cây.
d.     Sự khác biệt của nhân trong cùng một quả.

III.     ĐẶC TÍNH
1.     Mùi hương:
a.     Sự khác biệt của nhiều loài.
b.     Sự khác biệt của cùng loài.
c.      Sự khác biệt trên cùng một cây.
d.     Sự khác biệt trên cùng một quả.

2.     Vị đậm nhạt:
a.     Sự khác biệt của nhiều loài.
b.     Sự khác biệt của cùng loài.
c.      Sự khác biệt trên cùng một cây.
d.     Sự khác biệt trên cùng một quả.

IV.     DUYÊN CHUYỂN ĐỔI
1.     Do thiên nhiên.
2.     Do động vật và côn trùng.
à Điều kiện tự nhiên trong vũ trụ nên duyên chuyển đổi có xấu, có tốt (không tuyệt đối)
3.     Do con người.
à Sử dụng kiến thức nên chuyển đổi và cải thiện tốt hơn, nhưng đôi khi cũng tạo duyên chuyển đổi xấu hơn ban đầu.

V.         DUYÊN TAN
1.     Do duyên tan từ Nhân.
à Duyên hợp ban đầu chưa đủ (không đủ duyên).
2.     Do thiên nhiên vũ trụ (mưa bão, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, động đất, núi lửa,…)
3.     Do úng thúi (thời gian và tuổi thọ).
4.     Do động vật và côn trùng.
à Chúng ăn, cắn phá và dẫm đạp.
5.     Do con người
à Khai thác, sử dụng và chế biến để đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống.

TÓM LƯỢC: Từng phần (trùng trùng duyên sinh, muôn màu muôn vẻ, đa mùi hương vị, phương tiện chuyển đổi và trùng trùng duyên diệt).
-         Trùng trùng duyên sinh, duyên hợp.
-         Một Nhân cho nhiều Quả, một Quả có nhiều Nhân.
-         Trùng trùng duyên diệt duyên tan.
à Thảo mộc luôn bị chi phối bởi môi trường xung quanh nên chuyển đổi không ngừng.

VI.     KẾT LUẬN
Bài học kinh nghiệm.
à - Muốn được quả thì ban đầu phải chọn Nhân.
  - Phải thiện xảo tạo Nhân để nhận Quả (vì Nhân nào Quả nấy không sai).
--------------------------------

TRIỂN KHAI TRI KIẾN THEO DÀN BÀI
(Minh Bảo - Lần 1)


Câu 1: Giải thích từ Nhân quả thảo mộc:

- Nhân: là nguyên nhân (tức là nguồn giống ban đầu để đem gieo trồng). Ở thảo mộc, nhân có nhiều dạng như: củ, quả, hạt, thân, cành, lá, vv...
- Quả: là kết quả, là thành quả (tức là những gì thu hoạch được). Ở thảo mộc, quả có nhiều dạng tương ứng hoặc không tương ứng với nhân như: củ, quả, hạt, thân, lá, hoa, rễ, cành, nhựa, toàn thân, vv...
- Thảo mộc: là cỏ cây, tức chỉ cho tất cả các loài thực vật, từ loài vi sinh vật như rong, rêu, tảo, nấm,... cho đến những loài cây cổ thụ cao lớn.

Một số ví dụ cụ thể về Nhân quả thảo mộc:

- Loài có nhân là củ cho ra quả là toàn bộ thân và lá như: hành, tỏi…
- Loài có nhân là củ cho ra quả là hoa: hoa thược dược, hoa sen…
- Loài có nhân là củ cho ra quả là củ: khoai tây, khoai lang, củ từ…
- Loài có nhân là quả cho ra quả là quả như: dừa, cau…
- Loài có nhân là hạt cho quả là hoa và hạt: các loại hoa cúc,…
- Loài có nhân là hạt cho quả lá thân và lá: rau muống cạn, cải lá,…
- Loài có nhân là hạt cho quả là hạt: đỗ tương, đỗ xanh, đỗ đen, lạc, vừng, lúa, ngô…
- Loài có nhân là hạt cho quả là quả: bầu bí, cà chua, cam, quýt, bưởi, chanh, lê, táo, mận, mít,...
- Loài có nhân là thân cho quả là củ: khoai lang, sắn,…
- Loài có nhân thân cho quả là thân: mía, rau má, rau muống nước,…
- Loài có nhân là thân hay cành, cho quả là quả (trái): cam, quýt (trong trường hợp lai giống bằng phương pháp chiết cành, ghép thân nhân tạo).
- Loài có nhân là lá cho quả là cây: cây thuốc bỏng, cây quỳnh,…
- Loài có nhân là quả cho quả là thân và nhựa: mía, thông, cao su…
- v.v…

Như vậy, có loài từ một dạng nhân cho ra một dạng quả, nhưng cũng có loài từ một dạng nhân cho nhiều dạng quả; ngược lại cũng có loài từ nhiều dạng nhân cho ra một dạng quả. Ví dụ:

- Loài từ một dạng nhân cho ra một dạng quả: lúa, ngô, đậu, lạc, mía, rau má, rau muống nước, vv...
- Loài từ nhiều dạng nhân cho ra một dạng quả: cam, chanh (đúc từ hạt hoặc chiết từ thân).
- Loài từ nhiều dạng nhân cho ra nhiều dạng quả: khoai lang (dùng cành, thân đem trồng hoặc dùng củ đúc thành cây và cho ra củ, cành, thân, lá).


Câu 2: Hãy luận về quá trình diễn biến về Nhân quả thảo mộc.

Đức Phật đã xác định: Tất cả các pháp (cả về vật chất lẫn phi vật chất) trong vũ trụ này đều chịu sự chi phối và tác động biến đổi một cách thường xuyên liên tục của quy luật vô thường và luật nhân quả. Chính sự tác động đó đã tạo nên một thế giới muôn hình muôn vẻ của thiên nhiên, thảo mộc và loài vật trong đó bao gồm cả con người. Bài học này giúp người học tự tư duy và triển khai tri kiến đường đi của nhân quả thảo mộc. Từ đó làm nền tảng tư duy về đường đi nhân quả của vũ trụ và con người.

I. DUYÊN HỢP:

1. Môi trường sống:

Thảo mộc đa dạng về chủng loại và loài cho nên chúng cũng thích nghi và phù hợp với nhiều điều kiện và môi trường sống khác nhau. Ví dụ:

a. Dưới nước (gồm môi trường nước mặn - biển, nước lợ - cửa sông và nước ngọt - sông, suối, ao hồ): có các loài rong, rêu, tảo, bèo, lúa,...

b. Bùn lầy (trong các đầm): có các loài sen, súng, cói, bần, đước, sú vẹt, dừa nước,...

c. Nơi ẩm thấp (trong rừng rậm, ven sông suối, ao hồ, nơi tù đọng): có các loài rêu, mốc, nấm, cỏ dại,...

d. Nơi đồng bằng: có các loài cỏ, cây bụi, hoa màu, cây thân gỗ, một số cây cổ thụ,...

e. Trên đồi núi: có các loài thông, phi lao, các loại cây lấy gỗ hoặc lấy nhựa, cây thân leo, thảm thực vật tầng thấp,...

f. Vùng hoang mạc hoặc sa mạc khô cằn và nắng nóng: có các loài xương rồng, bao báp, một số loài cỏ có khả năng chịu hạn cao,...

g. Vùng băng tuyết: có các loài thông châu Âu, một số thực vật chịu lạnh,...

h. Một số loài sống cộng sinh hoặc ký sinh trên thân các loài khác như: dây tơ hồng, cây tầm gửi, địa y,...

i. Môi trường khác: Một số loài cây sống bám vào tường vôi, mái nhà, các loài cây cảnh được trồng trong nhà,... Đặc biệt có các loài phong lan chỉ bám rễ vào một vật tạm bợ nào đó và hút chất và nước trong không khí rồi tự tổng hợp thành dưỡng chất để phát triển.

Kết luận:

Môi trường sống là một trong những điều kiện cơ bản để các loài thảo mộc sinh trưởng và phát triển. Môi trường sống vốn rất phong phú và đa dạng cho nên các loài thảo mộc cũng rất phong phú và đa dạng. Bất cứ loại môi trường nào cũng có thể phù hợp với một hoặc nhiều loài thảo mộc khác nhau. Ngoài ra, để thích nghi với các điều kiện môi trường sống khác nhau thì thảo mộc cũng biến đổi đa dạng để phù hợp với nhiều loại môi trường và phát triển. Ví dụ:

- Có nhiều loài mọc thêm tay leo (như bầu, bí, một số cây hoa dây, cây rừng, vv...) quấn chặt lấy giàn hoặc thân cây khác để vươn lên được vững chắc.

Nói đến loài thảo mộc thì chúng ta thấy từ thấp đến cao, ở trên đồi núi tới đáy biển hay bất kỳ một nơi nào… chúng cũng thích nghi và phù hợp với môi trường chúng hiện đang sinh sống. Điều đó cho thấy nơi nào có sự sống là nơi đó có thảo mộc”.

2. Thiên nhiên:

Điều kiện tự nhiên trong vũ trụ nói chung và trên hành tinh này nói riêng vốn không ổn định và không đồng đều giống nhau, không có sự cân bằng về tính chất, độ ẩm, độ cao thấp, không có môi trường tuyệt đối cho sự sống. Thiên nhiên trên trái đất gồm có 4 yếu tố hợp lại là: Đất – Nước – Không khí – Nhiệt độ (Đất – Nước – Gió – Lửa). Đây là 4 điều kiện cần và đủ để sự sống tồn tại và phát triển.

a. Đất:

Thành phần của đất có nhiều dạng như: đất bùn đen, đất sình lầy, đất phù sa màu mỡ, đất thịt, đất pha cát, đất sét, đất đỏ ba-zan, đất pha sỏi đá, đất phèn chua, đất nhiễm mặn, vv...

Đất là một trong những điều kiện chủ yếu để thảo mộc hút chất khoáng lên đi nuôi cơ thể. Đất giúp thảo mộc mọc lên vững chắc và phát triển cao lớn.

b. Nước:

Thành phần của nước có các loại như: nước mặn ở biển, ở rừng ngập mặn; nước lợ ở vùng cửa sông; nước ngọt ở sông suối, ao hồ, nước ngầm trong lòng đất. Ngoài ra còn có hơi nước trong không khí, nước bốc hơi ở dạng mây và sương mù, nước mưa và nước đóng băng.

Nước là một thành phần quan trọng của thảo mộc, là điều kiện để giúp thảo mộc vận chuyển chất dinh dưỡng đi nuôi cơ thể. Không có nước thì thảo mộc không thể phát triển được.

Ngoài ra, sự lưu chuyển của nước từ vùng này đến vùng khác mang theo hạt giống đến những vùng miền mới, đó cũng là một điều kiện làm đa dạng loài thảo mộc ở các vùng miền khác nhau.

c. Gió:

Thành phần của gió có các dạng: gió nồm mang theo hơi nước, ẩm ướt, mát mẻ làm cho cây cối dễ phát triển; gió Phơn Tây Nam khô nóng; gió mùa Đông Bắc khô hanh và lạnh buốt, vv... Gió thổi từ nhiều hướng với cường độ mạnh nhẹ khác nhau, gió thổi theo mùa mang tính chất khác nhau do tính chất địa lý và địa hình.

Gió có thể mang theo hạt giống đến những vùng miền mới để sinh trưởng và phát triển.

d. Lửa:

Chủ yếu là năng lượng phát ra từ mặt trời dưới dạng nhiệt và ánh sáng tạo nên một nhiệt độ cần thiết giúp sinh vật phát triển bình thường. Nhiệt độ phân bố không đều theo điều kiện địa lý vùng miền. Ví dụ: ở hai cực của trái đất (hàn đới) thì nhiệt độ quanh năm rất thấp, luôn ở mức âm; nhiệt độ tăng dần khi đi về các vùng ôn đới, cận nhiệt đới, nhiệt đới và tới vùng xích đạo là vùng nóng nhất (châu Phi có khi lên tới trên 40oC).

Nhiệt độ cũng phân bố không ổn định theo mùa do hoạt động của trái đất quay quanh mặt trời với khoảng cách thay đổi khác nhau (Xuân, Hạ, Thu, Đông). Sự thay đổi độ cao của địa hình cũng làm nhiệt độ biến đổi. Ngoài ra, sự tác động của con người cũng làm thời tiết luôn biến đổi (hiệu ứng nhà kính). Thực vật cũng tùy và các điều kiện thời tiết mà phát triển hay bị diệt vong.

Kết luận:

Sự đa dạng và biến đổi phức tạp, thường xuyên, liên tục của 4 yếu tố đất - nước - gió - lửa làm cho thảo mộc sinh trưởng và phát triển một cách phong phú, đa dạng, đồng thời cũng có những biến đổi bất thường (tuyệt chủng) để thích ứng với môi trường sống của chúng.

“Nguồn cung cấp dưỡng chất để duy trì sự sống của thảo mộc, là vai trò quan trọng không thể thiếu đối với sự sống trên hành tinh này”.

3. Động vật và côn trùng:

Thảo mộc xuất hiện trên trái đất trước các loài động vật và côn trùng một khoảng thời gian rất dài. Song về sau thì một trong những điều kiện tiếp tục tham gia góp phần vào quá trình hình thành nhân quả thảo mộc chính là động vật và côn trùng. Chúng ăn các dạng thực vật ở dạng trái hay quả có chứa các hạt từ nơi này và đi đến nơi khác thải ra. Tại đó phân của chúng làm cho đất màu mỡ, hạt giống trong những trái hay quả do chúng đã ăn chưa bị phân hủy được thải ra và tiếp tục nẩy mầm rồi phát triển thành cây mới tạo nên sự nhân giống tự nhiên.

Ngoài ra có những loài thảo mộc mà trên hạt của chúng có gai hoặc móc, chúng có thể bám chặt vào lông thú và được di chuyển đi đến một khoảng cách rất xa rồi rơi xuống và phát triển thành cây ở đó.

Các loài côn trùng cũng tham gia vào quá trình đa dạng loài và giúp thảo mộc sinh trưởng và phát triển như ong giúp hoa thụ phấn...

4. Con người:

Với sự thông minh của mình, loài người không chỉ dễ dàng đem các giống thảo mộc từ nơi này đến nơi khác mà còn dùng kiến thức khoa học để lai tạo nhân ra rất nhiều chủng loại thảo mộc khác nhau làm cho thảo mộc vô cùng phong phú và đa dạng về loài và chất lượng.

“Rất thông minh biết cách di chuyển Nhân, tạo môi trường sống mới và chế biến nhân tạo hoàn hảo”.

Kết luận:

Động vật, côn trùng và đặc biệt con người là những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển của thảo mộc, làm cho thảo mộc phát triển đa dạng, mạnh mẽ, rộng rãi. Con người còn sử dụng các chế phẩm hóa học như phân hóa học, phân vi sinh làm cho thảo mộc phát triển (hoặc bị tiêu diệt thuốc diệt cỏ) hoặc sử dụng các biện pháp lai ghép, kích thích gây đột biến gen để tạo nên những loài thảo mộc mới.

Ngoài ra, đất, nước, gió và nhiệt độ cũng là những yếu tố làm cho thảo mộc phát triển phong phú và đa dạng.

II. ĐẶC TƯỚNG:

1. Hình dạng của thảo mộc:

Tùy theo môi trường và điều kiện sống khác nhau mà ở các loài thảo mộc có sự khác biệt rõ ràng:

a. Sự khác biệt của nhiều loài:

- Về thân: Loài rong, tảo... do sống dưới nước nên thân và lá thường mảnh mai, yếu đuối nhưng dẻo dai để phù hợp với môi trường nước. Ngược lại, loài sống ở trên đồi núi cao cần phải có thân vững chắc để đủ sức chống chọi với gió bão và nắng hạn như cây thông, cây lim, cây tùng... Loài cỏ thường ưa ánh sáng và lượng nước theo mưa tự nhiên nên chọn đồng bằng để sinh trưởng, chúng có thân hình thấp bé, thường bò tỏa ra nhiều hướng bằng các nhánh. Một số cây dây leo có thân dài và uốn cong như con rắn quấn quanh các thân cây lớn để vươn lên cao tìm ánh sáng.

- Về lá: Lá của các loài cũng khác nhau và chia ra ba nhóm:
+ Lá kim: thông, phi lao… (chống thoát nước tốt, thoát gió hiệu quả).
+ Lá rộng: đa số loài (thoát nước nhanh).
+ Lá dạng gai hoặc cành: xương rồng, cây dao... (tích được lượng nước nhiều và chống thoát nước tốt).

Loài xương rồng và cây dao thì mỗi lá chính là một phần thân mà sau này sẽ phát triển thành cây mới.

Có loài lá thưa, có loài lá dày, có loài lá mọc đối, có loài lá mọc xoắn...

- Về rễ: Có loài rễ chùm, có loài rễ cọc, có loài rễ kết hợp...

- Về hoa: Hình dáng các loài hoa rất đa dạng và phong phú.

- Về quả: Có loài cho quả: ổi, cam, đào, dừa, nho…; có loài cho hoa: hồng, huệ, lan, mai, đào...; có loài cho thân lấy gỗ: lim, gõ, thông…; cho nên hình dáng của chúng cũng khác nhau.

- Hình dáng chung: Có loài có hình dáng đẹp, có loài gai góc, xấu xí...

b. Sự khác biệt của cùng loài:

Do sự tác động của con người, do điều kiện sống, do sự khác nhau về điều kiện giống ban đầu mà mặc dù cùng chung một loài nhưng vẫn có sự khác nhau rõ rệt ở thảo mộc. Ví dụ:

- Cùng là loài tre nhưng có các giống khác nhau về kích thước: trúc, tre đằng ngà, tre thường, tre hóa, lồ ô...
- Cây lúa được trồng trên đất tốt sẽ tốt hơn cây lúa được trồng trên đất phèn chua.
- Cùng là cây phượng nhưng có cây không bao giờ trổ hoa.
- Cùng loài cây nhưng cây thì rậm lá, cây khác lại thưa lá.

c. Sự khác biệt trên cùng một cây:

- Trên cùng một cây nhưng sự khác biệt về đặc tướng vẫn xảy ra khi có sự tác động khác nhau của ánh sáng, phân bón, sâu hại… trực tiếp tới cây đó. Thông thường hướng nào được nhận nhiều năng lượng ánh sáng, chất dinh dưỡng thì hướng đó cành lá khỏe mạnh xanh tốt hơn. Ngược lại thì cành lá khẳng khiu hơn, lá thưa và yếu hơn, hoa quả trên một cây cũng khác nhau.

d. Sự khác biệt của nhân trong cùng một quả:

Do trong quá trình sinh trưởng và phát triển, dưới sự tác động của con người, động vật, côn trùng hoặc một số yếu tố vật lý, sinh học nào đó mà quả phát triển không đồng đều và cho ra các hạt có chất lượng không đồng đều. Ví dụ:

- Trong một trái có nhiều hạt thì không phải hạt nào cũng đồng đều nhau về chất lượng mà có hạt tốt, có hạt lại kém, hạt lớn, hạt nhỏ.

- Trong một bó lúa, không phải bông nào cũng giống bông nào và đều bằng nhau về số hạt lúa và kích thước hạt lúa mặc dù bó lúa ấy được gieo từ một nhân.

- Cũng có khi từ nhiều nhân khác nhau nhưng do điều kiện chăm sóc, môi trường sống và nhiều yếu tố khác giúp cho ra cùng một loại quả tương đồng như nhau …

2. Màu sắc:

a. Sự khác biệt của nhiều loài:

Màu sắc của thảo mộc rất phong phú, có loài có thân màu xanh – lá màu xanh, có loài có thân màu xám – lá màu xanh, có loài lá màu xanh đậm, có loài lá màu xanh nhạt, hoa của thảo mộc cũng phong phú về màu sắc như: đỏ - vàng – tím – hồng – lơ – cam …

b. Sự khác biệt của cùng loài:

Do yếu tố tự nhiên hoặc tác động của con người (lai tạo, tạo đột biến) mà trong một loài có thể có sự khác biệt về màu sắc, độ đậm nhạt... Ví du:

- Cùng là hoa hồng nhưng có nhiều màu khác nhau như: đỏ - vàng - hồng - nhung - trắng.

- Cùng loài cây nhưng trồng ở trên đất khác nhau sẽ cho màu sắc đậm nhạt ở thân hoặc lá khác nhau.

c. Sự khác biệt trên cùng một cây:

Ngày nay do tiến bộ khoa học mà con người đã tạo lên những loài hoa có nhiều màu sắc trên cùng một cây, thậm chí có nhiều màu sắc trên cánh hoa ở cùng một bông. Điều đó cũng xảy ra trong tự nhiên ở một số loài hoa như: phong lan, dâm bụt… Ví dụ:

- Trên cùng một cây hoa hồng nhưng có những bông hoa có màu sắc khác nhau.

- Trên một cây chuối nhưng không có tàu lá nào giống hệt tàu lá nào về màu sắc, hình dáng và kích thước.

d. Sự khác biệt của nhân trong cùng một quả:

- Từ nhiều giống hoa/quả có thể cho ra một dạng hoa/quả giống nhau về màu sắc như ở một số loài hoa. Ví dụ: hoa muống biển và hoa muống thường đều có hình thức và màu tương đồng nhau, hai bông hoa hồng cùng màu sẽ có thể được sinh trưởng từ hai giống hoa hồng khác nhau...

Kết luận:

Hình dạng của thảo mộc rất đa dạng và có nhiều sự khác biệt như trên. Chính sự khác biệt ấy mà chúng đã tương ưng với những môi trường và điều kiện sống nhất định, hoặc ngược lại môi trường và điều kiện sống đã tạo nên sự khác biệt ấy.

Màu sắc của thảo mộc cũng vô cùng phong phú, biểu hiện ở thân, cành, lá, hoa, quả và hạt. Chính môi trường sống (duyên hợp) cũng đã góp phần làm nên sự khác biệt này.

III. ĐẶC TÍNH:

1. Mùi hương:

a. Sự khác biệt của nhiều loài:

Hương của thảo mộc có thể tỏa ra từ nhiều bộ phần thân của chúng, có loài hương phát ra từ củ, có loài hương phát ra từ thân, lá, hoa, nhựa, gốc, rễ,...

Hương của thảo mộc ở mỗi loài có sự khác nhau rõ rệt như: hương sen khác với hương quế, hương hoa hồng không ngát như hương hoa sữa, hương cây thông khác với hương cây tràm,...

b. Sự khác biệt của cùng loài:

Mùi hương đậm hay nhạt thường là do môi trường và thời tiết tạo nên. Cùng một giống hoa hồng nhưng những cây được trồng ở những nơi nhiều nước, thời tiết ẩm ướt, mưa nhiều, đất xấu thì hương sẽ không thơm đậm đà bằng những cây được đem trồng ở nơi có môi trường, nhiệt độ, thời tiết và điều kiện chăm bón tốt hơn.

c. Sự khác biệt trên cùng một cây:

Do sự mạnh yếu khác nhau về phần thể chất mà mùi hương thoát ra cũng có sự khác nhau rõ ràng.

2. Vị đậm nhạt:

a. Sự khác biệt của nhiều loài:

Mỗi loài có một vị riêng biệt như: ớt có vị cay, mía có vị ngọt, khế có vị chua,...

Cũng có những loài không có vị gì rõ ràng cả.

b. Sự khác biệt của cùng loài:

Cùng là loài bưởi nhưng nếu được chăm sóc tốt thì bưởi sẽ có vị ngọt, ngược lại sẽ có vị đắng. Cùng là loài mía nhưng trồng ở đất khô ráo sẽ ngọt hơn trồng ở đất úng ngập.

c. Sự khác biệt trên cùng một cây:

Trên thân cây mía vị ngọt bố trí không đều tùy theo mùa và thời tiết, có khi phần gốc có vị ngọt đậm hơn phần ngọn hoặc ngược lại.

Cam trên cùng một cây nhưng không phải trái nào cũng có vị ngọt và độ đậm nhạt như nhau.

d. Sự khác biệt trên cùng một quả:

Trên cùng một quả, phía nào bị mặt trời đốt nóng nhiều hơn hoặc bị côn trùng châm chích thường có vị nhạt hơn.

Kết luận:

Hương vị của thảo mộc rất đa dạng và phong phú. Ngoài ra sự tác động của môi trường và điều kiện sống (Duyên hợp) cũng góp phần làm cho hương vị của chúng thay đổi biến hóa đa dạng hơn.

IV. DUYÊN CHUYỂN ĐỔI:

1. Do thiên nhiên:

Nước và gió là hai yếu tố mang quả và hạt của thảo mộc đến những vùng miền đất mới và ở đó chúng phát triển một cách tự nhiên. Ví dụ:

Quả dừa rụng xuống sông, nước đưa đi đến một nơi xa rồi đậu lại, ở đó nó mọc lên một cây mới. Hoa của cây Bồ Công Anh dễ bị gió tách hạt ra mang đi rất xa.

2. Do động vật và côn trùng:

Động vật và côn trùng cũng là nhân tố tham gia tích cực vào quá trình chuyển đổi nhân quả thảo mộc. (Xem lại phần I.3)

“Điều kiện tự nhiên trong vũ trụ nên duyên chuyển đổi có xấu, có tốt (không tuyệt đối)”

3. Do con người: (xem lại phần I.4)

Sử dụng kiến thức nên chuyển đổi và cải thiện tốt hơn, nhưng đôi khi cũng tạo duyên chuyển đổi xấu hơn ban đầu.”

V. DUYÊN TAN:

1. Do duyên hợp tan từ Nhân:

Mỗi loài có một tuổi thọ nhất định, có loại cây lâu năm, có loại cây chỉ vài tháng, có loài chỉ vài chục ngày…

Ngoài ra nếu giống tốt thì có thể tuổi thọ dài hơn. Do nhân bị hư mọt, khô, thối, không được gieo trồng, bị con người phá hoại.

“Duyên hợp ban đầu chưa đủ (không đủ duyên)”

2. Do thiên nhiên vũ trụ:

Mưa bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, động đất là những tác động trực tiếp làm cho thảo mộc bị chết.

3. Do úng thúi:

Một số loài thảo mộc không ưa ngập nước, khi chúng bị ngập nước hoặc mưa quá lâu sẽ bị úng thúi.

4. Do động vật và côn trùng:

Thảo mộc là nguồn thức ăn cho nhiều động vật và côn trùng nên dễ bị chúng phá hoại.

“Chúng ăn, cắn phá và dẫm đạp...”

5. Do con người:

Con người không chỉ khai thác, sử dụng thảo mộc làm thực phẩm, nguyên liệu thuốc, chất đốt cháy, vật liệu xây dựng, vv... mà đôi khi còn phá hoại thảo mộc một cách vô lý. Vì vậy, thảo mộc trên hành tinh chúng ta bị tàn phá hủy hoại rất nhiều.

“Khai thác, sử dụng và chế biến để đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống”.

Kết luận:

Duyên tan của thảo mộc cũng có nhiều nguyên nhân như đã biết ở trên. Với hoạt động bất thường của thời tiết và khí hậu cũng như việc sử dụng bừa bãi, thiếu ý thức của động vật, côn trùng và con người mà duyên tan của thảo mộc ngày càng phức tạp hơn. Ngoài ra bản chất ban đầu của nhân cũng góp phần làm cho duyên tan có thể xảy ra bất thường (làm mùa màng cây phát triển không kịp thu hoạch đã bị lũ lụt, hạn hán phá hoại).

VI. KẾT LUẬN CHUNG:

Duyên hợp và duyên tan của thảo mộc vốn rất đa dạng và phong phú cho nên nhân quả của thảo mộc cũng tương ưng đa dạng, tạo nên vô số loài, mỗi loại lại có vô số đặc tướng, đặc tính và hương vị khác nhau; chúng sinh diệt liên tục dưới sự chi phối của tự nhiên, môi trường, động vật, côn trùng và con người,… tạo nên một thế giới thảo mộc muôn hình muôn vẻ.

Theo luật nhân quả thì gieo nhân nào sẽ gặt quả đó, cụ thể là:

- Nhân tốt + môi trường tốt = quả tốt.
- Nhân tốt + môi trường xấu = quả không tốt.
- Nhân xấu + môi trường tốt = quả không tốt.
- Nhân xấu + môi trường xấu = quả rất xấu hoặc không có quả.

“Muốn được quả thì ban đầu phải chọn Nhân.
Phải thiện xảo tạo Nhân để nhận Quả (vì Nhân nào Quả nấy không sai)”.

Suy rộng ra, không chỉ riêng thảo mộc mà cả các loài động vật (trong đó có con người) cho đến mọi hành tinh trong vũ trụ, tất cả đều có chung một môi trường sống và cùng chịu sự chi phối của vô thường, của luật nhân quả. Dù là một con vật nhỏ bé hay cả vũ trụ bao la cũng bị vô thường biến đổi, trùng trùng duyên hợp và trùng trùng duyên tan tạo nên một vụ trụ muôn hình muôn vẻ, đa màu, đa sắc. Những gì đang hiện hữu trên trái đất hôm nay hẳn sẽ khác xa bản thân nó cách đây hàng triệu hay hàng tỷ năm trước. Cũng như diện mạo của hệ mặt trời hôm nay hẳn sẽ khác xa diện mạo của nó cách đây hàng triệu hay hàng tỷ năm trước, và hàng tỷ năm sau chắc hẳn sẽ khác xa hơn nữa. Vấn đề chỉ khác nhau về thời gian. Ví dụ:

- Đời sống của cây lúa nước chỉ kéo dài tối đa khoảng 3 tháng.
- Tuổi thọ của con người trung bình khoảng 100 năm.
- Tuổi thọ của tế bào động vật trung bình khoảng 10-30 ngày.
- Tuổi thọ của trái đất chưa thể ước tính được. (Có thể do duyên tan làm nó bị nổ tung hoặc duyên hợp từ các hạt trong vũ trụ nhập vào nhau tạo nên những hành tinh mới).

Nói sự sinh diệt của vũ trụ thật ra đó chỉ là cái nhìn tương đối theo không gian và thời gian mà thôi. Thực ra tất cả vũ trụ này chưa từng có sinh hay có diệt, bởi vật chất vẫn tồn tại như ban đầu, nghĩa là không sinh ra cũng không mất đi, chúng chỉ di chuyển từ nơi này sang nơi khác, biến đổi từ dạng này sang dạng khác mà thôi.

Tu viện Chơn Như, tháng 10/2013

_HẾT_

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2020

HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI

HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI

Đức Phật, một vị thầy hoàn hảo, là khuôn vàng thước ngọc, là chuẩn mực đạo đức cho nhân sinh, cho những ai học hạnh của Ngài. Những việc làm, lời nói, tư tưởng của Ngài được kiết tập trong tam tạng Phật Giáo "Kinh, Luật, Luận" là những lời dạy tiêu biểu về đạo đức, về một lối sống an lạc, giải thoát.
Đức Phật dạy cho chúng ta biết rằng tất cả mọi người, cũng như tất cả các loại chúng sinh khác, đều có đầy đủ khả năng thành Phật. Chúng sinh và Chư Phật đều chung một bản thể sáng suốt, đều cùng một chân tâm trong sạch, linh diệu, bất sinh bất diệt. Nhưng bản thể chúng sinh đã bị bụi dơ phủ kín, chân tâm của chúng sinh đã bị ngu tối làm mê lầm, xấu xa. Khi nào chúng sinh lau chùi hết nhơ bụi, diệt trừ hết vô minh, phiền não, bấy giờ tự nhiên sẽ thành Phật, không khác gì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và tất cả chư Phật khắp mười phương thế giới.
Hiện nay, sự khác biệt giữa chúng sinh và Phật không phải do nơi bản thể, nơi chân tâm, mà do ở sự sai biệt giữa giác ngộ sáng suốt và ngu tối mê lầm. Các Đức Phật là những chúng sinh đã giác ngộ hoàn toàn, còn những chúng sinh, vì còn say đắm trong cảnh tham lam, sân giận, si mê, nên chưa thành Phật. Bởi vậy Đức Phật dạy rằng: "Ta là Phật đã thành; chúng sinh là Phật sẽ thành". Nếu chúng sinh kiên quyết tu tập theo giáo lý của Phật thì chắc chắn thế nào cũng sẽ thành Phật. Bởi vậy Đức Phật coi tất cả mọi chúng sinh đều bình đẳng như Ngài và Đức Phật chỉ tự nhận là một người hướng đạo, một vị chỉ đường mà thôi.
Chúng ta vẫn niệm "Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", ấy là vì chúng ta chân thành cung kính, sùng bái Đức Phật Thích Ca là ông thầy của chúng ta. "Sư" là thầy học, "bổn" là gốc của ta. Chứ Đức Phật không phải là một ông chúa tể, một vị Thượng Đế, một vị Trời nào có quyền năng định đoạt số mệnh của chúng ta hay ban ân huệ cho chúng ta. Đức Phật cũng chỉ là một người bình thường như chúng ta, nhưng là một người đã tu hành đắc đạo, đã giác ngộ. Chúng ta hãy nghe qua những vần thơ tả lúc Ngài ra đời:
Nơi vùng Hy Mã Lạp Sơn
Tuyết giăng núi biếc, mây vờn đỉnh cao
Ven sườn phong cảnh đẹp sao
Bềnh bồng sương gió, dạt dào nắng mưa
Ngay miền bắc Ấn Độ xưa
Có vương quốc nhỏ nên thơ vô cùng,
Một ngày xảy chuyện đáng mừng
Khiến cho thế giới tưng bừng đổi thay,
Ma Da hoàng hậu ngủ say
Nằm mơ chợt thấy sắc mây rạng ngời
Một luồng ánh sáng từ trời
Lung linh chiếu xuống tận nơi giường bà
Trong hào quang bỗng hiện ra
Voi to, màu trắng, sáu ngà đẹp thay,
Voi và ánh sáng cùng bay
Tới gần hoàng hậu nhập ngay vào bà.
Sáng hôm sau tỉnh giấc ra
Trong lòng hoàng hậu chan hòa niềm vui
Tâu vua rõ chuyện lạ đời
Nhà vua Tịnh Phạn cho mời các quan
Quần thần thông thái giỏi giang
Đoán điềm giải mộng rõ ràng giúp vua.
Quần thần hoan hỉ cùng thưa:
"Đây là điềm tốt. Giấc mơ tuyệt vời
Báo tin mừng sắp tới nơi
Rồi đây hoàng hậu thụ thai an lành
Sau này hoàng hậu sẽ sanh
Tương lai thái tử rạng danh thiên tài
Siêu nhân vĩ đại giúp đời
Sẽ mang hạnh phúc cho người gần xa
Cho vua dòng dõi Thích Ca
Và cho nhân loại nhà nhà thơm hương".
Vua nhìn hoàng hậu yêu thương
Cùng nhau âu yếm mừng thầm biết bao
Từ lâu vua vẫn ước ao
Sinh con nối dõi thế vào ngôi vua
Hai mươi năm mãi đợi chờ
Sắp thành hiện thực giấc mơ lâu dài.
Quả nhiên lời đoán chẳng sai
Thế rồi hoàng hậu mang thai một ngày
Thật vui thay! Thật mừng thay!
Hương lành theo gió dâng đầy thoảng xa,
Theo phong tục Ấn Độ xưa
Đàn bà sinh nở thường đưa trở về
Khai hoa nở nhụy chốn quê
Nhà cha mẹ ruột thêm bề bình yên,
Biết ngày sinh tới gần bên
Cho nên hoàng hậu vội lên đường về
Đi cùng một số bạn bè
Thêm người hầu hạ cận kề trước sau,
Hoàng cung đưa tiễn hồi lâu
Đoàn về quê ngoại cùng nhau lên đường.
Khi gần về đến quê hương
Cả đoàn được lệnh bên vườn ghé qua
Lâm Tỳ Ni tỏa hương ra
Đón người nở nhuỵ khai hoa chốn này
Trong vườn phong cảnh đẹp thay
Cây vươn nhánh xuống dang tay đỡ người
Bà vin cành biếc mỉm cười
Hoa vô ưu nở cánh tươi đón chào
Bà sinh thái tử lành sao
Dễ thương, kháu khỉnh, hồng hào, tinh anh.
Địa cầu như rạng bình minh
Tràn niềm hạnh phúc, đầy tình vui tươi
Điềm lành xuất hiện khắp nơi
Cầu vồng phô sắc, đất trời tỏa hương
Rằm tháng Tư đẹp lạ thường
Một ngày trọng đại mở đường tương lai.
Trong vương quốc khắp nơi nơi
Hân hoan đón nhận tin vui vô cùng
Cả đoàn trở lại hoàng cung
Muôn chim đua hót bên đường tiễn chân
Nhà vua cùng các quần thần
Chào mừng đón tiếp phái đoàn hồi cung
Khắp nơi lễ hội vui chung
Chập chùng cờ phướn, tưng bừng múa ca.
Bấy giờ khắp nước gần xa
Ngát hương an lạc, thắm hoa thanh bình
Cho nên thái tử sơ sinh
Được vua, hoàng hậu, triều đình đặt tên
"Tất Đạt Đa" nghĩa bình yên
"Người mang toại nguyện", "người đem tốt lành".
Chính Đức Phật Thích Ca đã dạy: "Ai ăn người ấy no, ai tu người ấy chứng" chứ không có cách nào để người khác tu hộ cho mình thành Phật được cả. Sự giác ngộ và giải thoát bao giờ cũng hoàn toàn do ở nơi ta, ở sự siêng năng tu tập, sửa đổi tâm trí của ta. Người Phật Tử không sùng bái Đức Phật để xin ân huệ trần tục, nhưng họ tôn trọng Đức Phật vì thành quả tối cao của Ngài. Khi người Phật Tử kính trọng Đức Phật, gián tiếp họ đã nâng cao tâm linh họ để một ngày nào đó, họ cũng đạt được giác ngộ như Ngài hầu phụng sự nhân loại ngoài việc họ mong ước trở thành Phật.
Phật Giáo không tin vào một đấng Thượng Đế, vì Phật Giáo cho rằng vũ trụ được hình thành và chuyển vận bằng những định luật không có chủ thể, vũ trụ không phải là sáng tạo của một Đấng Trời nào; Phật Giáo không chủ trương cầu xin, và Phật Giáo xem việc thờ cúng không phải là một điều luật bắt buộc, đó chỉ là cách để bày tỏ sự biết ơn đối với Đức Phật và là phương thức để trau dồi, phát triển thân tâm. Đấng "Thượng Đế" hoặc "Tạo Hóa" hay các "Thần Linh" được con người tin tưởng thờ phụng vì con người nghĩ rằng các đấng ấy có thể ban phúc hay giáng họa cho họ. Đấy là quan điểm của tâm lý sợ hãi, yếu đuối, mất tự tín đã sản sinh ra thần thánh (đa thần hoặc nhất thần). Đạo Phật với chủ trương luật nhân quả, nghiệp báo đã nói lên tinh thần trách nhiệm cá nhân và cộng đồng trước sự đau khổ và hạnh phúc của chính mình. Đức Phật dạy: "Chính ta là kẻ thừa kế của hành động của ta, là người mang theo với mình hành động của mình".
Đức Phật dạy các đệ tử: "Các ngươi phải cố gắng tu hành để tự giải thoát, ta chỉ là người hướng dẫn mà thôi. Trong công việc chiến thắng mọi trở lực trên đường tiến triển để đi đến đích, chỉ có các ngươi là người có công hơn cả". Đức Phật cũng dạy: "Ta như thầy thuốc hay, biết bệnh cho thuốc, uống hay không uống, lỗi ấy không phải tại thầy. Ta như vị chỉ đường, dạy con đường phải, nghe mà không đi, lỗi ấy không phải tại người chỉ đường".
Sau khi đã chỉ dạy lý thuyết về hành động và nêu rõ con người làm chủ nghiệp của mình và chịu kết quả các hành vi thiện ác của mình, Ðức Phật muốn cho con người ý thức rõ rệt bằng con người thật sự hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình, nên Ngài tuyên bố rõ ràng Ngài chỉ là đạo sư dẫn đường chỉ lối, không thể "cứu rỗi" hoặc làm thay cho ai, và con người phải tự chủ lấy mình, tự mình đi trên con đường giải thoát.
Ðức Phật không bắt buộc chúng ta phải triệt để tuân theo lời Ngài và cũng không hăm dọa nếu chúng ta không tuân theo thì phải bị Ngài trừng phạt. Sự giữ hay không giữ giới là do chúng ta hoàn toàn tự liệu lấy. Ðạo Phật khác với các tôn giáo khác chính là ở điểm Ðức Phật không phải là một quan tòa tối cao giữ quyền thưởng phạt. Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu của một người thời chính tự nó đã mang theo nó một mầm thưởng phạt rồi.
Ðức Phật chỉ là một vị dẫn đường rất từ bi và rất sáng suốt. Ngài chỉ cho chúng ta con đường nào là con đường sáng và con đường nào là con đường nguy hiểm không nên đi. Nhưng nếu chúng ta không theo con đường sáng mà lại muốn đi vào con đường nguy hiểm, thì tất nhiên chúng ta sẽ gặp tai họa tự nhiên, chứ Phật không tạo ra tai họa để trừng phạt chúng ta. Tòa án chính là luật nhân quả. Ta làm ác thì ta chịu quả xấu, ta làm thiện thì ta được quả tốt. Giới luật chính là thành trì ngăn chận cho ta đừng đi lạc vào đường ác, là hàng rào ngăn chận cho ta khỏi rơi xuống vực sâu, trong khi ta đi trên con đường giải thoát.
Con người phải tự nương tựa vào chính mình, "tự mình thắp đuốc lên mà đi". Truyện tích kể rằng ni cô kia hạ sinh một trai mà bà đã thụ thai từ lúc chưa xuất gia mà không biết. Vua Ba Tư Nặc nuôi đứa trẻ. Về sau, cậu bé lớn lên cũng xin xuất gia và đắc quả A La Hán. Tuy nhiên, ni cô không thể dứt tình mẫu tử. Ngày kia, thấy vị Tỳ kheo, con bà, đi trì bình, bà đến gần với tất cả tấm lòng ưu ái kể lể nỗi thương nhớ. Nhưng ông con không đáp lại sự trìu mến ấy sợ rằng con đường tu tập của mẹ bị cản trở vì tình cảm quyến luyến. Thái độ của người con thức tỉnh, thúc giục bà sớm dập tắt tâm luyến ái và đắc quả A La Hán. Nghe bà chứng ngộ đạo quả, Ðức Phật giải thích rằng vị cứu tinh, hay chỗ nương tựa, của ta, phải là chính ta chớ không ở đâu khác. Chính ta là chủ của ta chớ không ai khác hơn:
(Pháp Cú 160)
Tự mình là vị cứu tinh
Tự mình nương tựa vào mình tốt thay
Nào ai cứu được mình đây?
Tự mình điều phục hàng ngày cho chuyên
Thành ra điểm tựa khó tìm.
Chính ta là vị cứu tinh của ta. Chính ta là kẻ bảo hộ cho ta. Một nông dân nghèo, chỉ có mảnh vải rách đắp thân và cái cày để đi cày thuê. Một hôm có vị Tỳ kheo đi ngang qua thương hại hỏi anh có muốn xuất gia không. Anh xin xuất gia làm Sa di. Nhiều lần thầy này chán cảnh tu hành, định hoàn tục, cứ mò tới thăm lại mảnh vải rách và cái cày của mình mãi. Cuối cùng thầy cố gắng hành thiền và đắc quả A La Hán. Giảng về thành quả tốt đẹp của thầy Ðức Phật nói:
(Pháp Cú 380)
Tự mình bảo vệ bản thân
Tự mình nương tựa chẳng cần nhờ ai,
Vậy nên kiềm chế thân người
Như là chàng lái buôn ngồi ngựa hay
Lo kiềm chế ngựa luôn tay.
Chỉ có người biết tự điều, mới tự mình xây dựng lên hòn đảo, nước lụt không có thể ngập tràn. Một tăng sĩ trẻ tuổi nọ không thể học thuộc một câu kinh dài bốn hàng, mặc dầu hết sức cố gắng trọn bốn tháng. Người anh, cũng đã xuất gia, khuyên thầy nên hoàn tục. Vị sư trẻ tuổi vẫn còn muốn sống đời thiêng liêng đạo hạnh. Ðức Phật hiểu được tâm tính thầy, đưa cho thầy một cái khăn lau tay sạch và dạy thầy mỗi sáng cầm khăn, căng ra trước mặt trời. Khi cầm cái khăn đưa lên như thế với bàn tay có ít nhiều bụi và mồ hôi thì không bao lâu cái khăn trở nên dơ. Sự thay đổi trông thấy ấy làm cho thầy Tỳ kheo trẻ tuổi suy gẫm về tính cách vô thường của đời sống. Thầy cố gắng hành thiền và đắc quả A La Hán. Đức Phật dạy rằng do cố gắng cá nhân, bậc thiện trí tạo cuộc sống hạnh phúc cho chính mình.
Một hòn đảo nổi cao trên mặt nước không thể bị ngập lụt mặc dầu những bãi đất thấp chung quanh có thể bị nước tràn vào. Một hải đảo như thế có thể là nơi an toàn cho tất cả. Cùng thế ấy, bậc thiện trí trau dồi tuệ minh sát phải tự biến mình thành một hải đảo bằng cách thành tựu đạo quả A La Hán, và như vậy thì không còn bị sóng biển nhận chìm, không còn bị lôi cuốn trong dòng ngập lụt của các phiền não tham, sân, si, ái dục, tà kiến và vô minh v.v...:
(Pháp Cú 25)
Luôn luôn cố gắng nhiều bề
Lại thêm hăng hái, không hề buông lung
Tự mình khắc chế mọi đường
Những người hiền trí vô cùng tinh anh
Tạo ra hòn đảo cho mình
Vượt trên sóng nước vây quanh thét gào
Não phiền theo ngọn sóng trào
Dễ gì quấy nhiễu dâng cao ngập tràn.
Truyện tích kể rằng một con voi chiến khi còn trẻ rất mạnh mẽ. Lúc về già thời yếu đi. Một hôm voi ra bờ ao định xuống uống nước thời rủi thay, chân bị sa lầy, chẳng rút ra khỏi bùn được. Tên nài đến nơi, nhận ra đó là voi chiến, nên làm như sẵn sàng xuất trận, rồi khua chiêng gióng trống ầm ĩ lên. Voi hăng hái, cố gắng rồi rút được chân ra khỏi đầm lầy. Khi câu chuyện được bạch lại với Ðức Phật, Ngài khuyên dạy các vị Tỳ kheo cũng nên noi gương đó mà gia công cố gắng giống như voi bị sa lầy để tự rút ra khỏi đầm lầy của dục vọng, của vòng luân hồi:
(Pháp Cú 327)
Canh phòng tâm thật kỹ càng
Tươi vui, sáng suốt, siêng năng, nhiệt tình
Mình lo tự cứu lấy mình
Khỏi đường tà ác chúng sinh đọa đày
Như voi kia bị sa lầy
Rút chân gắng sức vượt ngay đầm bùn.
Con đường tự lực được Đức Phật dạy như sau: "Này các Tỳ kheo, hãy tự mình thắp lên ngọn đuốc của chính mình, thắp lên với chánh pháp, đừng thắp lên với một pháp nào khác. Hãy tự mình làm chỗ nương tựa của chính mình, nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa với một pháp nào khác". Tinh thần tự lực mang tính triệt để nhân bản này là một đặc tính của đạo Phật.
Đức Phật còn thúc giục mọi người hãy nên tự lực cố gắng để mà tiến bộ ngay từ lúc còn trẻ. Người không tiến bộ cả về vật chất lẫn tinh thần sẽ ăn năn hối hận. Truyện tích kể rằng con một nhà triệu phú lấy vợ cũng là con một nhà rất giàu. Khi cha mẹ hai bên qua đời vợ chồng này được thừa hưởng gia tài to lớn của cả bên chồng lẫn bên vợ. Hai vợ chồng không chịu làm ăn, phung phí hết cả tài sản sự nghiệp và sau đó cả hai trở thành nghèo đói khốn cùng, phải đi ăn xin. Đề cập đến số phần bất hạnh của hai vợ chồng này Đức Phật dạy người sống không đạo hạnh, lúc trẻ chây lười không lo tạo sự nghiệp và cũng chẳng lo tu hành, thì khi về già sẽ "tàn tạ như con cò đứng trên bờ ao khô cạn nước, không cá, không mồi, mỏi mòn ủ rũ", hoặc lúc về già sẽ "nằm dài xuống như một cái cung bị gãy, bị vứt bỏ dưới đất, quay nhìn dĩ vãng mà than vắn thở dài":
(Pháp Cú 155)
Lúc còn cường tráng thiếu niên
Đã không tạo dựng được thêm gia tài
Tu hành biếng nhác, chây lười
Đến khi luống tuổi con người giống sao
Cò già buồn đứng bờ ao
Ao khô cạn nước kiếm sao ra mồi
Chết mòn thân xác mất thôi!
(Pháp Cú 156)
Lúc còn cường tráng thiếu niên
Đã không tạo dựng được thêm gia tài
Tu hành biếng nhác, chây lười
Khi già nằm xuống dáng người khác chi
Cây cung bị gãy vứt kia
Buồn than dĩ vãng trôi đi mất rồi.
Truyện tích kể lại rằng có ông vua nọ tuyệt tự. Đức Phật giải thích rằng sở dĩ vua không có con nối dòng vì trong một kiếp quá khứ ông có đời sống không thận trọng. Vua và vương phi là hai hành khách còn sống sót trên một chuyến tàu đi biển bị chìm. Cả hai trôi tấp vào một hoang đảo. Để khỏi bị chết đói cả hai đã phá các ổ chim, lấy trứng ăn, mà trong lòng chẳng hề có một chút hối tiếc vì sát hại sinh mạng chim non sắp chào đời. Về sau khi trở lại với loài người cả hai cũng chẳng hề hối tiếc về việc sát sinh đó suốt trong thời gian còn trung niên, và cả đến lúc tuổi già. Đức Phật khuyên dạy vua và hoàng hậu:
(Pháp Cú 157)
Ai mà biết tự thương mình
Phải nên bảo vệ nhiệt tình bản thân
Trong ba giai đoạn đường trần
Trẻ trung, lớn tuổi và luôn về già
Người hiền trí hãy tỉnh ra
Tìm đường giác ngộ, lìa xa mê lầm.
Kinh Pháp Cú xưa nay thường được xem như là cao điểm của tư tưởng hướng thượng hiền thiện của con người trong cuộc sống. Đức Phật như "người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc." Kinh Pháp Cú không phải là sách để đọc thoáng qua như một thiên tiểu thuyết. Chúng ta nên đọc đi đọc lại. Thường suy niệm về những lời vàng ngọc trong ấy và đem ra thực hành trong đời sống hàng ngày, tự thanh lọc thân tâm rồi ta sẽ thấy đó là người bạn cố tri luôn đem lại nguồn cảm hứng, an ủi, nâng đỡ, hộ trì và cải thiện tâm linh trên những bước thăng trầm trong cuộc sống hàng ngày. Kinh Pháp Cú trở thành một kho tàng Phật bảo để chúng ta nghe những lời dạy quý báu của Ðức Phật, giúp chúng ta sống một cách tốt đẹp và có ý nghĩa, có lợi cho mình, có lợi cho người, có lợi cả hai./.

Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao

TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO


TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Kính thưa quý vị và các bạn!

Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là chữ Hán. Không ít người khi vừa nghe đến chữ Hán là có cảm giác khó chịu, ác cảm, tự ti, và liền lập tức lờ đi, không đọc thêm nữa. Như vậy họ vô tình tự đánh mất đi một cơ hội học hỏi rất quý báu, nhằm đem lại cho bản thân một cuộc đời thanh thản, hạnh phúc. Từ đó họ không đạt được mục đích cuối cùng của cuộc đời mình.

Tứ Diệu Đế dịch theo nghĩa Việt là Bốn Chân Lý Vi Diệu. Bát Chánh Đạo là Tám Con Đường Chân Chính. Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tìm ra cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ trước. Vậy bốn chân lý và tám con đường ấy là gì, để làm gì, nó quý báu ra sao? Bốn chân lý chính là bốn sự thật về kiếp làm người, gồm có:

1. Sự thật về khổ:

Cuộc đời mỗi con người là một chuỗi ngày tháng năm khổ đau thật sự, khổ vì mưu sinh, vì già nua, vì bệnh tật, vì cái chết, vì mong muốn không được thỏa mãn, vì yêu thương mà không được gần nhau, vì ghét nhau mà phải chung sống, khổ vì mang cái thân thể người nặng nề này. Bởi thế mới có câu "đời là bể khổ", không ai có thể chối cãi được.

2. Sự thật về nguyên nhân của khổ:

Nói một cách khái quát thì nguyên nhân của các nỗi khổ ở con người là do lòng ham muốn, tiếng Hán gọi là Ái Dục. Nếu nói chi tiết thì đó là do con người bị ngăn che bởi 5 màn ngăn trí tuệ, là bị ràng buộc bởi 7 tâm dính mắc, là bị chi phối bởi 12 nhân duyên, vv... Khi đi tìm hiểu về đề tài này các bạn sẽ hiểu được rõ ràng hơn từng vấn đề cụ thể, chi tiết.

3. Sự thật về con đường chấm dứt khổ:

Con đường dẫn tới sự chấm dứt khổ là con đường chân chính, con đường trí tuệ, con đường trung đạo, con đường lương thiện, tức Bát Chánh Đạo, gồm có: 1- Thấy biết đúng bản chất sự việc; 2- Tư duy chân chính; 3- Lời nói chân chính; 4- Làm việc chân chính; 5- Sinh sống chân chính; 6- Siêng năng chân chính; 7- Nhớ nghĩ chân chính; 8- Thiền định chân chính.

4. Sự thật về sự chấm dứt khổ:

Con người có thể thực hành Bát Chánh Đạo để chấm dứt hoàn toàn các nỗi khổ đau của kiếp người. Sự thật này đã được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các đệ tử chân chính của Ngài thực hiện đạt kết quả cụ thể, rõ ràng. Nhiều người cho rằng khổ là sự thật không ai tránh khỏi và không ai có thể chấm dứt hết khổ. Đó là một quan điểm sai lầm vô cùng nghiêm trọng.

Trên đây tôi vừa trình bày một cách ngắn gọn về bốn sự thật của kiếp người và tám con đường chân chính để thoát ra khỏi biển khổ của cuộc đời. Hy vọng sẽ đủ tạo niềm tin cho các bạn tìm hiểu, để từ đó thực hành nhằm đem lại lợi ích cho chính bản thân các bạn, cho gia đình các bạn cũng như tất cả mọi người mọi loài đang chung sống trên hành tinh này.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã đọc hết bài viết này. Kính chúc quý vị và các bạn luôn sáng suốt và hạnh phúc!


Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

Việc kết hôn là sáng tạo ngu ngốc nhất của nhân loại


Việc kết hôn là sáng tạo ngu ngốc nhất của nhân loại

Osho


- Tác giả Osho là một vị chân tu thuộc thế kỷ XX.
- Bạn phải là một người thật sự có trí tuệ mới hiểu được nội dung bài viết này.
- Không hiểu, không chấp nhận nội dung bài viết này là đồng nghĩa với sự thật: bạn ngu.
*****

Trong gia đình tôi phải có đến 50 tới 60 người – tất cả mọi họ hàng, ông bà, cô bác, chú thím, dì dượng… sống cùng nhau. Tôi đã được chứng kiến toàn bộ sự hỗn độn đó. Trên thực tế, 60 người này giúp tôi rất nhiều trong việc không tạo ra gia đình của riêng mình. Kinh nghiệm đó là quá đủ.

Nếu bạn đủ thông minh, bạn sẽ học được nhiều điều từ những lỗi lầm của người khác. Nhưng nếu bạn không thông minh, bạn thậm chí không học được chút gì từ lỗi lầm của chính mình. Vậy nên tôi học từ lỗi lầm của cha tôi, mẹ tôi, chú tôi, dì tôi... Đó là một gia đình lớn, và tôi đã chứng kiến toàn bộ cái rạp xiếc ấy, tình trạng khổ sở ấy, những cuộc xung đột liên tục, tranh đấu với nhau vì những thứ nhỏ nhặt, những thứ vô nghĩa vẫn diễn ra liên tục hàng ngày và có lẽ sẽ không bao giờ chấm dứt.

Thế nên từ thời thơ ấu tôi đã trở nên chắc chắn rằng tôi sẽ không bao giờ muốn tạo ra một gia đình của riêng mình nữa.

Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy một người được sinh ra trong một gia đình… và tại sao anh ta có thể vẫn tiếp tục tạo ra một gia đình nữa? Nhìn thấy toàn bộ những cảnh tượng khổ sở ấy mà anh ta vẫn cứ tiếp tục lặp lại nó cho được?

Khi tôi hoàn tất chương trình đại học, một cách tự nhiên, cha tôi đã rất lo lắng chuyện kết hôn của tôi. Mẹ tôi đã phải ướm lời trước, bởi vì cha tôi luôn thận trọng trong việc hỏi tôi bất cứ gì, bởi vì một khi tôi đã nói gì với ông thì sau đó không còn cách nào để thay đổi cả. Vậy nên đầu tiên ông ấy thử thông qua mẹ tôi, ông nói rằng: “Bà nên tìm hiểu xem nó nghĩ gì về việc kết hôn, bởi vì một khi nó đã nói không với tôi thì chúng ta phải vứt bỏ cái chủ đề ấy khỏi tư tưởng mãi mãi. Nên bà hãy thử tìm hiểu suy nghĩ của nó…”

Khi tôi định đi ngủ thì mẹ tôi đến và ngồi bên giường tôi và hỏi: “Giờ con đã học xong cả rồi, con nghĩ gì về việc kết hôn?”

Tôi nói: “Con muốn hỏi mẹ, bởi vì trước giờ con chưa bao giờ kết hôn cả nên con không có bất cứ kinh nghiệm nào về việc này. Mẹ đã kết hôn rồi, mẹ đã nuôi lớn 11 đứa trẻ. Mẹ là một người có rất nhiều kinh nghiệm. Con muốn xin mẹ lời khuyên. Rằng cuộc đời này của mẹ có phải là một cuộc đời tràn ngập hạnh phúc hay không? Có phải trong đời mẹ đã nghĩ nhiều lần rằng nếu mẹ không kết hôn thì chắc đời mẹ sẽ khá hơn? Và con không cần mẹ phải trả lời ngay giờ, con sẽ cho mẹ 15 ngày để suy nghĩ về điều đó.”

Bà nói: “Điều này thật lạ. Ta định cho con thời gian để suy nghĩ về điều này, và con lại nói ta hãy suy nghĩ về nó!”.

Tôi nói: “Vâng, bởi vì con không biết. Con tin mẹ. Nếu sau 15 ngày mẹ nói “Đúng vậy, cuộc đời mẹ là một cuộc đời ngập tràn niềm vui ngây ngất, dĩ nhiên con sẽ kết hôn. Nhưng mẹ hãy nhớ, con tin tưởng mẹ rất nhiều, con đang trao cả cuộc đời con và sự tin tưởng của con trong tay mẹ. Và cũng nhớ điều này rằng con biết hết về cuộc đời mẹ – mẹ chưa bao giờ có bất cứ niềm vui ngây ngất nào cả, hay bất cứ niềm hạnh phúc hân hoan nào. Nó chỉ là cuộc chiến liên tục, một cuộc tranh đấu – với cha, với những đứa trẻ… Và mẹ đã phải khổ sở thế – đó là những gì con biết. Có lẽ sâu bên trong mẹ có những kinh nghiệm hân hoan nào đó mà con không nhận thức được. Mẹ hãy nghĩ về những điều đó trong 15 ngày. Và con sẽ để cho mẹ quyền quyết định: nếu mẹ nói “Kết hôn đi”, con sẽ kết hôn.”

Sau 15 ngày bà ấy nói: “Không. Đừng kết hôn. Con đã hại ta. Con tin tưởng ta quá nhiều đến nỗi ta không thể nào phản bội lại con, và ta không thể lừa con và cũng không thể nói dối con. Con nói đúng, rất nhiều lần ta đã nghĩ về cuộc đời khốn khổ của ta và những gì ta đã làm – chỉ sinh nở, chăm sóc nuôi nấng những đứa trẻ. Đó là toàn bộ cuộc sống của ta, nó luôn bắt đầu từ lúc 4h sáng cho tới 12h khuya và ta vẫn đang phải tiếp tục. Ta không bao giờ được có bất cứ giây phút nào của riêng mình.” – Bà nói tiếp: “15 ngày này đã tạo ra một sự hỗn loạn lớn trong ta. Ta chưa bao giờ nghĩ về toàn bộ cuộc đời ta theo cách mà con bắt ta phải suy nghĩ. Ta yêu con, và ta thu hồi lại câu hỏi ban đầu. Nó không thật sự là câu hỏi của ta, nhưng là cha con đang cố để tìm hiểu câu trả lời đó.”

Tôi nói: “Nói với ông ấy hãy đến mà hỏi thẳng con thì hơn.”

Và bà ấy nói với cha tôi: “Như những gì tôi biết, mọi việc xong rồi. Tôi đã nói nó đừng kết hôn.”

Cha tôi nói: “Chúa ơi! Bà đã khuyên nó đừng kết hôn sao?”

Bà nói: “Vâng, bởi vì nó tin tưởng tôi rất nhiều, và nó đề nghị tôi suy nghĩ trong 15 ngày và nếu tôi vẫn giữ lời khuyên, nó sẽ sẵn sàng. Nhưng tôi không thể lừa dối nó và nếu tôi lừa dối nó thì tôi sẽ không thể nào sống với cái tội lỗi ấy cả đời tôi được. Ông hãy đi làm những gì ông muốn làm đi.”

Giờ thì ông ấy thậm chí còn lo lắng hơn – mẹ tôi cũng đã rời khỏi tầm tay ông ấy. Nhưng bằng cách nào đó câu trả lời đã được hiểu, về những gì tôi muốn. Ông ấy nhờ tới một người bạn của ông, một vị biện hộ của tòa án tối cao, rất nổi tiếng, rất logic với lý luận học, rất hợp lý… Cha tôi nghĩ rằng đó đúng là người thích hợp nhất để tranh luận với tôi. Và tất nhiên người đàn ông đó đã nói: “Đừng lo. Tôi đã tranh luận cả đời tôi ở tòa án tối cao. Ông không nghĩ là tôi có thể thuyết phục con trai anh sao – người mà mới chỉ rời trường đại học về? Nó thì biết gì chứ? Nó thì có kinh nghiệm gì nào? Tôi sẽ đến vào ngày mai.”

Ngày tiếp theo là chủ nhật, tòa án đóng cửa. Ông ấy đến nhà tôi và tôi bảo ông: “Trước khi ông bắt đầu – bởi vì cha tôi đã bảo tôi rằng ông đang đến để thuyết phục tôi về việc kết hôn – trước khi ông bắt đầu tôi muốn chúng ta làm một thỏa thuận rõ ràng rằng nếu ông có thể thuyết phục được tôi, thì tôi sẽ sẵn sàng kết hôn. Nhưng nếu ông không thể thuyết phục được tôi thì ông sẽ phải ly hôn với vợ của ông. Ông phải làm gì đó cho việc này trở thành đáng giá chứ. Và tôi tin tưởng ông, vậy nên tôi không đề nghị ông một vị thẩm phán. Tôi yêu mến và tôn trọng ông như tôi yêu mến và tôn trọng cha tôi. Vậy nên tôi không yêu cầu một vị thẩm phán nào đứng ra phán xét cả bởi vì điều đó sẽ giống như không tin tưởng ông. Tôi tin vào khả năng của ông và tôi sẵn sàng tranh luận, nhưng thỏa thuận này cần phải được ghi nhớ.”

Ông ấy nói: “Khoan hãy cho ta một chút thời gian, bởi vì ta chưa bao giờ nghĩ về tình huống này. Dù sự thật là ta đã phải sống cam chịu với chuyện kết hôn cả đời ta, nhưng ta chưa bao giờ thật sự có một suy nghĩ nào về nó. Và cậu lại đang đề xuất ta ly hôn nếu ta không thể thuyết phục cậu hứng thú với việc kết hôn. Hãy để ta suy nghĩ lại cho rõ ràng đã. Ta còn có những đứa trẻ và một bà vợ, ta cũng đang có địa vị trong xã hội nữa. Ta không thể ly hôn quá dễ dàng như thế.”

Tôi nói: “Và ông nghĩ tôi không có gì sao? Tất cả những gì ông có là quá khứ và tất cả những gì tôi có là tương lai. Quá khứ thì đã chết rồi, đã qua rồi. Tôi đang phải mạo hiểm cuộc sống của tôi, những thứ còn đang tới và chưa tới, và ông thì đang mạo hiểm chỉ những thứ đã đi rồi, xong rồi. Vậy mà ông lại nghĩ ông đang mạo hiểm nhiều hơn những gì tôi đang mạo hiểm sao?”

Và vào ngày thứ hai ông ấy đã thông báo cho tôi rằng: “Ta không muốn tranh cãi với cậu về bất cứ thứ gì nữa cả”.

Tôi đã phải đi đến nhà ổng mỗi ngày, và ông ấy luôn nói với vợ: “Bà nói với cậu ta là tôi không có nhà”.

Sau cùng người vợ nói: “Tại sao ông lại sợ chàng trai đó? Tại sao ông lại phải vào nhà tắm, khóa lại rồi trốn bên trong? Bất cứ lúc nào ông thấy cậu ta đến, tại sao ông lại sợ hãi?”

Ông ấy nói: “Bà không biết đâu. Vấn đề là hoặc cậu ta sẽ kết hôn hoặc tôi sẽ phải ly hôn với bà. Nó là một câu hỏi về sự sống và cái chết. Bà cứ đi ra nói với cậu ta rằng ta không có nhà đi.”

Trước khi tôi rời thành phố và vào đại học như một giảng sư, ngày cuối cùng tôi đến nói với vợ ông ấy: “Tôi biết ông ấy luôn ở bên trong, và bà cũng biết tại sao ông ấy lại không ra gặp tôi. Chỉ cần bà nói với ông ấy rằng ông ấy có thể là một nhà biện hộ với nhiều kinh nghiệm trong tòa án tối cao, nhưng ông ấy đã thua vụ này ngay từ đầu. Hãy nói với ông ấy rằng ổng nên ngưng khoác loác về việc ông ấy không bao giờ thua vụ kiện nào. Trên thực tế ông ấy đã thua một vụ này mà thậm chí không cần tới thẩm phán. Ông ấy đã có thể là cả hai. Tôi đã trao cho ông ấy cơ hội để là cả thân chủ lẫn thẩm phán. Ông ấy có thể lừa tôi, ông ấy có thể gian trá với tôi. Nhưng tôi biết ông ấy không thể vì thật là một việc khó khăn khi lừa ai đó mà họ tin tưởng quá nhiều vào mình…”

Ông ấy đi ra trong khi tôi đang nói với vợ ông ấy và ông nói: “Hãy tha thứ cho ta. Cậu nói đúng. Ta đã luôn tự hào như thế nhưng nay cậu đã làm ta rất sợ. Ta không bao giờ sợ bất cứ ai nhưng ta lại sợ cậu, bởi vì ta không thể nói một lời dối trá nào khi ta nhìn cậu, nhìn vào trong mắt cậu, nhìn vào sự tin tưởng của cậu, tình yêu của cậu dành cho ta. Ta không thể nói dối nhưng ta cũng không thể ly hôn với vợ ta được. Có quá nhiều thứ liên quan và đã có quá nhiều sự đầu tư – ta chỉ không thể làm được. Theo ta cậu nên nói thẳng với cha cậu rằng không có cách nào khác nữa, ông ấy phải nói trực tiếp với cậu điều ông ấy muốn biết”. Cha tôi không bao giờ làm điều đó. Tôi hỏi ông ấy rất nhiều lần: “Tại sao cha không hỏi con về việc kết hôn nữa? Cha đã cố gắng hỏi thăm từ những người khác, tại sao cha không hỏi một cách trực tiếp luôn?”

Ông ấy nói: “Ta biết rằng câu trả lời của con sẽ tạo ra phiền muộn cho ta. Câu trả lời của con là không kết hôn về phần con, nhưng nó sẽ trở thành ác mộng đối với ta. Con hãy quên chuyện này đi. Bất cứ gì con muốn làm, thì cứ làm. Nếu con muốn kết hôn, con hãy kết hôn. Nếu con không muốn, hãy dừng chủ đề này lại. Ta cũng đã ném ý tưởng ấy đi từ sớm rồi.”

Việc kết hôn là một trong những sáng tạo ngu ngốc nhất mà con người tạo ra. Nhưng nó được tạo ra với sự quan tâm sâu sắc, với lòng thiện chí. Tôi không nghi ngờ về tính thiện chí, tôi chỉ nghi ngờ về sự khôn ngoan của con người. Mục đích của họ thì có thể đúng, nhưng trí thông minh của họ thì rất xoàng.

Một người có sự hiểu biết thật sự sẽ không bao giờ hứa hẹn về ngày mai, anh ta chỉ có thể nói: “Trong giây phút này”. Một người có sự chân thành thật sự sẽ không thể hứa hẹn về tương lai chút nào. Anh ta có thể hứa gì? Ai có thể biết được về ngày mai? Ngày mai có thể đến, có thể không. Ngày mai có thể đến và bạn nói: “Tôi đã không như cũ, bạn đã không như cũ”. Ngày mai có thể đến và nói: “Anh hãy tìm ai đó khác phù hợp hơn với anh, em cũng sẽ tìm ai đó khác hài hòa hơn với em”. Thế giới thì bao la thế, tại sao phải làm kiệt nó hôm nay? Hãy giữ cho những cánh cửa được mở, hãy giữ cho khả năng thay đổi được sẵn sàng.

Tôi chống lại việc kết hôn. Nó luôn tạo ra những vấn đề không cần thiết, thậm chí là ngu ngốc. Sự sáng tạo ngu ngốc nhất trên thế giới chính là việc kết hôn, bởi vì nó hướng người ta đến với sự giả tạo: người ta luôn thay đổi, nhưng người ta phải tiếp tục giả vờ như thể họ vẫn giữ tình trạng y nguyên như cũ.

Tôi đã ở cùng với hàng ngàn gia đình – ai cũng khổ cả. Và bởi vì tôi được yêu quý nên cả người chồng lẫn người vợ đều đến và mở lòng họ ra với tôi. Cả hai khi tách riêng đều là những người rất tốt, nhưng khi ở cùng nhau thì họ liên tục tạo ra tranh đấu. Mỗi ngôi nhà đều trở thành một chiến trường. Và những đứa trẻ thì phải lớn lên trong bầu không khí bị nhiễm độc ấy. Chúng sớm muộn sẽ học được cùng những kĩ thuật và chiến lược mà cha mẹ chúng đã sử dụng và một cách tự nhiên chúng cũng sẽ lặp lại tất cả những điều đó.

Đó là lý do tại sao mỗi thế hệ đều không ngừng truyền những căn bệnh của nó cho những thế hệ sau. Những thế hệ thay đổi liên tục nhưng những căn bệnh thì trở nên nan y không thể chữa được. Bây giờ chúng ta phải chặn đứng căn bệnh ấy, để cho nhân loại tương lai có thể được tự do khỏi những sự ngu ngốc này.

Đừng chỉ đưa ra một khái niệm mới, mà hãy thay đổi nó từ trong nền tảng.

Osho’s Life and Teaching
_Phi Tuyết dịch_


Dưới đây là nội dung phản hồi của người đăng bài viết trên đây:

5/1/2017: Đã hiểu tại sao lượng người theo dõi (follow) tăng và đường truyền (serve) bị tắc nghẽn hôm qua, hóa ra do bài dịch này, bạn nào lỡ đọc tới đây mà thấy đồng tình và hiểu được thông điệp của câu chuyện trên, thì thôi. Bạn nào không hiểu hay chưa hiểu, hay không đồng ý, xin hãy đọc tiếp vài dòng:

Mới đăng lên 2 ngày mà đã đạt 12k likes (thấy sai sai, hay bị hack? hay 1,2k?), dù sao thì cũng chắc chắn là hơn cả bài viết “Không có trải nghiệm, tuổi trẻ không đáng một xu” năm ngoái rồi.

Nhưng nhìn các bình luận mới thấy buồn, đa phần các bạn hiểu sai quá sai thông điệp trong câu chuyện này. Cùng như cách các bạn đã hiểu sai thông điệp của những bậc giác ngộ khác từ xưa tới nay.

Trí óc các bạn đã quá chật chội với những tư duy cũ kĩ, lối mòn, những tư tưởng bị cài đặt, bị định hướng… đến nỗi nó không còn chút chỗ trống nào cho những tư duy mới mẻ cả. Mà chính những tư duy mới mẻ ấy mới là thứ có thể giải phóng tâm trí bạn, giải phóng linh hồn bạn. Bạn đã sống trong cũ kĩ hàng vạn kiếp rồi, và nếu bạn cứ đóng chặt tâm trí không tiếp nhận những thông điệp mới mẻ thì bạn sẽ lại sống thêm hàng triệu kiếp cũ kĩ như vậy nữa.

Đầu tiên, bạn không biết Osho là ai, và câu chuyện này là một câu chuyện có thật, không phải truyện bịa để bạn cười nhạo.

Osho là một bậc chân sư giác ngộ thuộc thế kỉ 20 – giống như Phật tổ giác ngộ hồi trước công nguyên và Chúa Jesus vào đúng công nguyên vậy – Họ đều là những bậc thầy dẫn dắt nhân loại trên con đường tâm linh – bạn có chê cười những lời dạy của Phật tổ không? Bạn có chê cười những lời rao của Chúa Jesus không? Osho cũng vậy, nếu bạn chê cười là bạn bỏ lỡ một cơ hội vĩ đại để học hỏi, để tiến hóa cho linh hồn của bạn. Bởi vì Phật và Đức Jesus đã thuyết giảng từ hàng ngàn năm trước trong những bối cảnh cổ xưa đến nỗi giờ bạn nghe chúng thấy sao mà khó hiểu. Còn Osho, ông ấy thuyết giảng dựa trên nền tảng nhận thức của con người hiện đại với những mối quan tâm hiện đại: tài sản, danh vọng, chính trị, gia đình, con cái… nên chúng cực kì dễ hiểu và một khi bạn có thể hiểu, cuộc đời bạn sẽ được khai phóng để đến với sự tự do và hạnh phúc.

Đừng chê cười một thứ chỉ vì bạn không có khả năng/chưa có khả năng để hiểu!

Phật nói bạn vứt hết tài sản đi, ném hết vào sọt rác đi, buông bỏ hết đi. – bạn có nói Phật điên không?

Đức Jesus nói hãy đưa thêm má trái cho kẻ nào tát má phải của bạn, hãy yêu thương kẻ thù của mình đi… – bạn có nói đức Jesus là nhảm nhí?

Cũng vậy thôi, Osho kêu bạn rằng hãy vứt bỏ mọi quan niệm cũ kĩ đi, nhìn mọi thứ sâu vào bản chất đi, hãy làm những gì mới mẻ khiến cho đời bạn nở hoa, khiến cho đời bạn thành lễ hội đi… (chuyện không nên kết hôn chỉ là 1 trong hàng triệu lời khuyên của ông ấy). Và bạn chưa biết ông ấy là ai, bạn chưa hiểu được ý của ông ấy là gì, bạn chưa từng đạt tới cấp độ về tâm thức đủ để nhìn ra những sự thật về cuộc đời bạn đang sống.

Ấy thế mà bạn vội phán những điều này là ngớ ngẩn, là nhảm nhí, là ngu si ư?

Phật từ bỏ gia đình vợ con từ khi đi tu tập, Đức Jesus không kết hôn và nói với mẹ mình “Bà không phải mẹ tôi”, Lão Tử cũng không kết hôn chút nào… bạn cũng nói họ ngu ngốc ư?

Từ khi nào mà bất cứ thứ gì bạn không thể hiểu bạn đều cho là nhảm nhí, là ngu ngốc?

Từ bao giờ bạn còn sáng suốt hơn cả các chân sư của nhân loại?

Bạn nhìn mọi thứ theo quan điểm của những nô lệ – nô lệ của xã hội, họ nhìn mọi thứ theo quan điểm của một người tự do. Và bạn là con chim trong lồng chửi những con chim đang bay lượn trên trời là ngu ngốc?

Tôi nói thật với các bạn là tôi chán giải thích lắm, trí óc các bạn kín quá nên không chỉ tôi mà đến Chân lý cũng không chen vào đó được nữa. Tôi chán giải thích nhưng cũng không muốn các bạn hiểu lầm rồi tự đi vào ngõ cụt.

Chắc phải viết thêm một lần nữa về thông điệp này: Tại sao kết hôn là một việc ngu ngốc – cái nhìn dưới góc độ của một bậc giác ngộ.


Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Hiểu Về Trái Tim

Khổ Đau

Link sách Audio:
https://ia601504.us.archive.org/13/items/HieuVeTraiTim_405/01.khoDau-quyenLinh.mp3

Nếu không có khổ đau
Biết đâu là hạnh phúc 
Nhờ mộng mị hôm nào 
Ta tìm về tỉnh thức.
Dù ta có tài năng đến đâu, dù ta có chuẩn bị kỹ lưỡng đến mức nào, thì những điều bất như ý vẫn cứ xảy ra theo lẽ tự nhiên của nó.

 

Chỉ là bất như ý


Người ta vẫn thường nói rằng nghèo là khổ, nghèo khổ, chứ ít ai nói giàu khổ cả. Thật ra, người nghèo có nỗi khổ của người nghèo mà người giàu cũng có nỗi khổ của người giàu. Người nghèo vì không chấp nhận cái nghèo, oán ghét cái nghèo, muốn được giàu nên mới khổ. Còn người giàu lại sợ bấy nhiêu tài sản chưa đủ làm người khác nể phục, sợ bị phá sản, sợ bị kẻ xấu lợi dụng hay hãm hại nên mới khổ. So ra cái khổ của người giàu còn phức tạp và nan giải hơn người nghèo. Phải chi trong xã hội ai cũng như ai, ai cũng sở hữu tài sản như nhau thì chắc chắn ý niệm giàu nghèo sẽ không có. Nhưng điều ấy không bao giờ là thực tế khi con người ngày càng ưa chuộng vật chất và xem đó là điều kiện căn bản của hạnh phúc. Cho nên, nếu ta may mắn không bị cuốn theo quan niệm của xã hội mà thoát ra khỏi ý niệm giàu nghèo, ta thấy sự hưởng thụ vật chất không phải là lý do lớn nhất để ta có mặt ở trên cõi đời này, thì chắc chắn ta sẽ không còn than nghèo khổ nữa.
Người ta cũng thường gộp chung cực với khổ, cực khổ. Nhưng bản thân của sự cực nhọc chưa chắc đã là khổ. Chỉ vì ta kháng cự lại nó, ta muốn mình không phải vất vả mà vẫn có đầy đủ mọi thứ tiện nghi như bao người khác nên ta mới khổ. Ta chỉ biết so sánh, đòi hỏi, chứ không chịu tìm hiểu căn nguyên sâu xa tại sao mình lại cơ cực. Chắc ta cũng đã từng chứng kiến, có những người chỉ cần người thân của họ qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo, dù người thân ấy không thể tiếp tục lao động nữa, thì họ vẫn vui lòng đem hết thân mạng của mình ra để bảo bọc. Có những người làm công tác cứu hộ, họ biết lao vào lửa dữ, chui xuống lòng đất, hay đi ngang qua lằn tên mũi đạn sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng vì tình thương mà họ không hề xem đó là nỗi khổ. Có người lại cho rằng cái cực tâm trí mới thật là khổ, vì phải suy tính đủ điều mới gánh vác nổi công việc. Nhưng trong thời buổi kinh tế suy thoái mà còn có công việc để làm, để suy tính, thì đã là điều hạnh phúc lắm rồi. Cho nên, cực có trở thành khổ hay không là tùy vào thái độ của mỗi người.
Điều mà ta thường than thở với nhau nhiều nhất đó là đau khổ, hễ đau là phải khổ, như là một sự thật không thể thay đổi. Thí dụ, ai đó tát vào mặt ta một cái có thể làm ta rất đau. Nhưng nếu ta biết mình có lỗi rất lớn với người ấy và sẵn sàng đón nhận, thì cái tát đó sẽ không làm ta khổ. Đằng này bằng một thái độ khinh miệt, họ đã "tặng" cái tát để sỉ nhục ta trước mọi người thì ta khổ thật đấy. Làm ăn bị thất bại khiến tiền bạc mất trắng ai mà chẳng đau xót, vì đó là mồ hôi nước mắt mà ta đã chắt chiu gầy dựng suốt bao năm trời. Nhưng từ cái đau ấy đến cái khổ vẫn còn một khoảng cách khá xa, nếu ta biết rõ nguyên nhân thất bại và chấp nhận sự thất bại ấy như một bài học kinh nghiệm. Và có lẽ, cái đau thống thiết nhất của nhân sinh chính là sự chia lìa, nên thường được ví như khúc ruột cắt đứt làm đôi (đoạn trường thương đau). Nhưng nếu ta ý thức được chuyện hợp tan là do nhân duyên, biết đâu chia lìa lại là cơ hội để hai bên cùng nhìn lại mình để tạo ra cái duyên mới tốt đẹp hơn trong tương lai, thì ta sẽ không còn thấy đó là nỗi thống khổ nữa. Quả thật, đau và khổ là hai cung bậc cảm xúc rất khác nhau.
Cuộc sống luôn có những điều hợp với ý ta nhưng lại mâu thuẫn với suy nghĩ của người khác, hoặc thỏa mãn nhu cầu người khác nhưng lại trái nghịch với sở thích của ta. Ngay với chính bản thân ta cũng có lúc "sáng nắng chiều mưa" mà chính ta còn không hiểu nổi, thì làm sao hoàn cảnh có thể làm vừa lòng ta mãi được. Có những điều trước kia ta ghét cay ghét đắng nhưng bây giờ lại rất yêu thích; có những thứ trước kia ta hết sức say mê nhưng bây giờ lại không muốn nhìn tới nữa; có những vấn đề trước kia ta vốn xem thường nhưng bây giờ lại cảm thấy quá hệ trọng. Giả sử mọi mong muốn của ta đều thành tựu hết thì thử hỏi ta sẽ trở thành cái gì và cuộc đời này sẽ ra sao? Vậy mà ta chỉ biết đòi hỏi, chứ không chịu suy xét nó có thật sự đúng đắn và phù hợp với khả năng của ta và hoàn cảnh hiện tại hay không. Rõ ràng cái khổ của ta không hẳn là cái khổ của kẻ khác. Vì thế, hầu hết những nỗi khổ mà ta thường kêu ca chỉ là sự bất như ý mà thôi.
Vậy thay vì than: "Tôi khổ quá!" thì ta hãy nên nói: "Nó bất như ý với tôi quá!". Cách gọi này chính xác hơn. Nó sẽ đánh động vào ý thức, giúp ta nhìn lại thói quen hay cách phản ứng của mình, thay vì cứ rượt đuổi theo đối tượng khác để đổ lỗi hay trừng phạt. Từ đó, ta sẽ nhận ra quan niệm "đời là bể khổ" chỉ là do cách nghĩ, hay chỉ là định kiến mà thôi.

 

Giá trị của khổ đau


Ta đừng bao giờ quên rằng ta không phải là một cá thể tồn tại biệt lập. Ta phải luôn chịu sự tương tác của bao nguồn lực xung quanh, từ bạn bè, gia đình, đến xã hội và cả vũ trụ bao la nữa. Dù ta có tài năng đến đâu, dù ta có chuẩn bị kỹ lưỡng đến mức nào, thì những điều bất như ý vẫn cứ xảy ra theo lẽ tự nhiên của nó. Có thành thì phải có bại, có hợp thì phải có tan. Tại sao ta chỉ muốn thành và hợp, còn bại và tan để cho ai? Lúc may mắn sao ta không tự hỏi mình có thật xứng đáng với những thành quả ấy và có nên đón nhận nó hay không. Vậy mà mỗi khi gặp xui rủi thì ta lại khóc than ầm ĩ, đòi hỏi sự công bằng. Ta đã hưởng thụ quá nhiều từ những tặng phẩm của vũ trụ rồi thì lâu lâu bị vũ trụ lấy lại để chia sớt cho kẻ khác, thiết tưởng đó cũng là lẽ tự nhiên chứ đâu có gì là thua thiệt!
Đối với những mất mát quá lớn thì tất nhiên phải cần có thời gian ta mới chấp nhận hoàn toàn được, nên việc phản ứng lại cũng là lẽ thường tình. Nhưng có những điều quá đỗi bình thường, nếu không nói là quá tầm thường mà ta cũng than khổ thì đó là lỗi của ta. Như trời mưa cũng khổ, kẹt xe cũng khổ, bị lỗi hẹn cũng khổ, thức ăn không vừa miệng cũng khổ, chiều cao không như ý cũng khổ, mau già cũng khổ, không ai hỏi thăm cũng khổ, được nhiều người thương cũng khổ Những nỗi khổ ấy là do nơi hoàn cảnh hay vì lòng tham của ta quá lớn? Hãy bình tâm nhìn lại xem! Không ai có thể làm cho ta khổ được cả, nếu ta có hiểu biết đúng đắn và khả năng chấp nhận đủ lớn. Để có được khả năng chấp nhận rộng lớn, ta cần phải biết thu gọn lại những mong cầu không cần thiết của mình. Ngay cả với những điều được cho là chính đáng, nếu thấy không có nó mà ta vẫn có thể sống vững vàng và hạnh phúc được, thì ta cũng nên cố gắng khước từ để tâm ta bớt lệ thuộc vào hoàn cảnh. Nhờ vậy, khi hoàn cảnh biến động thì ta vẫn an nhiên bất động.
Ngoài ra, ta cũng nên luyện tập cho mình cách đối mặt với khó khăn, hoặc tự tạo cho mình một cách nghĩ, cách sống đừng quá cầu mong sự an toàn, để cho sức chịu đựng trong ta được lớn mạnh. Ta thấy những đứa trẻ lớn lên trong môi trường được bảo bọc quá đầy đủ, khi bước vào đời không có chút vốn liếng kinh nghiệm nào mang theo để chống chọi với những nghịch cảnh, nên chỉ cần một tác động nhỏ như bị chê bai là chúng dễ dàng chao đảo và muốn bỏ cuộc ngay. Cũng như những loại cây mọc trên đất tơi xốp, trông xanh tươi mơn mởn, nhưng chỉ cần một cơn gió lớn đi ngang qua là gãy đổ. Còn những loại cây mọc trên đá núi, tuy dáng dấp khẳng khiu nhưng độ bám rất vững vàng. Cho nên, ta không thể cầu nguyện cho cuộc đời đừng xô đẩy mình vào những hoàn cảnh nghiệt ngã, nhưng ta có thể làm cho mình không bị ngã gục trước sóng gió cuộc đời bằng sự vững chãi từ chính trái tim mình.
Để có được trái tim ấy, ta phải biết đặt mình vào khuôn khổ của sự đào luyện, chứ không thể do sự ép buộc mà được. Nghĩa là ta vừa phải giới hạn sự hưởng thụ, cũng vừa phải tập đối đầu với mọi nghịch cảnh. Ta đừng vội kêu ca: sống mà không hưởng thụ thì sống để làm gì? Có ai cấm ta hưởng thụ đâu. Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó cả. Nếu ta cứ dung dưỡng cho cái tôi yếu đuối mãi thì đừng hỏi tại sao đời mình cứ khổ đau hoài. Dĩ nhiên, với một người đã có trái tim vững chãi thì bao nhiêu danh lợi cũng không là vấn đề. Họ có đủ bản lĩnh để vượt lên trên danh lợi, hay sử dụng nó một cách hữu ích cho đời. Song, thực tế số người có ý niệm muốn buông bỏ thói quen hưởng thụ rất hiếm, và số người làm được lại càng hiếm hơn. Nhất là trong tình trạng hiện nay, người ta dám đạp đổ cả thành trì đạo đức để tranh giành quyền lợi, bất chấp mọi hậu quả. Có lẽ vì thế mà đời sống ngày càng nhiều khổ đau hơn. Nó đã trở thành bản trường ca bất tận của con người.
Đúng, khổ đau là một thực tại không thể chối cãi, nhưng đó chỉ là do trình độ cảm nhận của con người. Khổ đau vốn không phải là bản chất đã định sẵn của cuộc đời này. Bởi xét cho cùng thì không có gì là khổ đau cả. Do guồng máy tâm thức trong ta vận hành sai lệch, nên nó đã tạo ra những phản ứng chống đối lại những hoàn cảnh mà nó cho là trái nghịch. Rất may, guồng máy tâm thức ấy là một hợp thể linh động, nên có thể điều chỉnh được. Chỉ cần ta có nhận thức đúng đắn thì mọi cảm xúc trong ta đều không ngừng tương tác với vạn vật, để tâm lý không tiếp tục tạo ra những phản ứng ích kỷ. Đồng thời, ta cần có một khả năng quan sát thật tinh tường về những thói quen mà ta đã tạo dựng từ trong quá khứ đến nay. Tiến trình tháo gỡ những tâm lý tiêu cực ấy chính là tiến trình vượt thoát khổ đau. Nói chung, càng bớt tự ái là càng bớt khổ đau. Hết vì cái tôi là hết khổ đau.
Đúng ra, ta cần phải biết ơn khổ đau. Khổ đau vừa giúp ta ý thức được cái gì là hạnh phúc, vừa giúp khả năng chịu đựng trong ta lớn mạnh, để ta có thể phát tiết hết bản năng sinh tồn tiềm ẩn của mình. Cũng như nếu không bị lạc đường, ta sẽ khó biết mình vốn rất sợ hãi; nếu không bị xúc phạm, ta sẽ khó biết rõ mức độ nóng giận của mình; nếu không bị dối gạt, ta sẽ khó biết mình cũng rất dễ tổn thương; nếu không bị bỏ rơi, ta sẽ khó thấy được tính yếu đuối và dựa dẫm của mình. Chính nhờ bản năng sinh tồn biểu hiện mà ta thấy rõ từng ngõ ngách sâu kín của phiền não tạo nên khổ đau. Từ đó, ta biết cách điều chỉnh lại tâm thức và nếp sống của mình, sao cho hài hòa với sự vận hành của vũ trụ. Nhờ đó, sự hiểu biết và tình thương trong ta bừng nở. Ta có thể đi giữa thăng trầm của cuộc đời này một cách thong dong tự tại mà không còn lo sợ những nghịch cảnh bất ngờ.
Có thể nói tâm ta như thế nào thì ta sẽ cảm nhận khổ đau như thế ấy. Vì khổ đau vốn từ tâm sinh ra, mà cũng từ tâm diệt đi.
Nếu không có khổ đau
Biết đâu là hạnh phúc
Nhờ mộng mị hôm nào
Ta tìm về tỉnh thức.