Tóm tắt 12 cánh cửa dẫn đến thất bại của một kiếp người
Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021
Tóm tắt 12 cánh cửa dẫn đến thất bại của một kiếp người
TRƯỜNG THỌ (Pháp tu cho người bệnh nặng)
SĀ 1034
TRƯỜNG THỌ
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản dịch tiếng Anh của Tỳ-khưu Ānalayo
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc (Veluvana), khu Ca-lan-đà (Kalandakā) tại thành Vương Xá (Rājagaha). Bấy giờ có đồng tử Trường Thọ (Dīghāvu) là con trai của gia chủ Thọ Đề (Jotika) thân mắc bệnh nặng.
Bấy giờ Thế Tôn nghe tin đồng tử Trường Thọ thân mắc bệnh nặng, sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Vương Xá khất thực. Rồi đi đến nhà đồng tử Trường Thọ. Đồng tử Trường Thọ từ xa thấy Thế Tôn, vịn giường muốn ngồi dậy.
Thấy thế, Thế Tôn nói: “Này đồng tử, không nên ngồi dậy, bệnh khổ sẽ gia tăng.” Thế Tôn ngồi xuống rồi hỏi: “Bệnh của con có chịu đựng được không? Bệnh giảm dần hay tăng thêm?”
Đồng tử Trường Thọ bạch Phật: ““Bệnh của con không thuyên giảm và thân con không được an ổn; các thứ khổ bức bách càng tăng thêm, không giảm bớt. Giống như người có nhiều sức mạnh bắt lấy người gầy yếu đuối, dùng dây trói chặt vào đầu rồi dùng hai tay siết chặt làm cho đau đớn vô cùng. Hiện tại sự đau đớn của con còn hơn thế nữa.
“Giống như tên đồ tể dùng dao bén mổ bụng bò lấy nội tạng nó ra. Làm sao con bò ấy chịu đựng được sự đau đớn ở bụng? Hiện tại bụng của con còn đau đớn hơn thế nữa.
“Giống như hai lực sĩ bắt một người yếu đuối treo lên trên lửa rồi đốt hai chân. Hiện tại hai chân của con còn nóng hơn thế nữa. Bệnh khổ của con chỉ gia tăng, không giảm bớt.”
Thế Tôn nói: “Này đồng tử Trường Thọ, con nên học tập như vầy: ‘Tôi có lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Phật. Tôi có lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Pháp. Tôi có lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Tăng. Tôi đã thành tựu Thánh giới.’ Nên học tập như vậy.”
Đồng tử bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, như Thế Tôn đã dạy về bốn bất hoại tịnh tín. Con luôn luôn có lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Phật. Con luôn luôn có lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Pháp. Con luôn luôn có lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Tăng. Con luôn luôn thành tựu Thánh giới.”
Phật bảo đồng tử: “Dựa vào bốn bất hoại tịnh tín, con nên tiếp tục tu tập sáu minh phần tưởng. Những gì là sáu? Quán tưởng vô thường trong tất cả các hành, quán tưởng khổ trong những gì là vô thường, quán tưởng vô ngã trong những gì là khổ, quán tưởng về thực [*], quán tưởng tất cả thế gian không gì đáng vui, và quán tưởng về sự chết.”
Đồng tử bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, bây giờ con có sáu minh phần tưởng, tu tập dựa vào bốn bất hoại tịnh tín như Ngài đã dạy. Nhưng con vẫn có ý nghĩ: ‘Sau khi mình chết, không biết cha của mình là gia chủ Thọ Đề sẽ thế nào?’”
Bấy giờ gia chủ Thọ Đề nói với đồng tử Trường Thọ: “Bây giờ con đừng nghĩ đến chuyện đó. Hãy tập trung chăm chú nghe Thế Tôn nói Pháp và ghi nhớ, như thế mới có thể được phước lợi, an vui, nhiêu ích lâu dài.”
Đồng tử Trường Thọ nói: “Con quán tưởng vô thường trong tất cả các hành, quán tưởng khổ trong những gì là vô thường, quán tưởng vô ngã trong những gì là khổ, quán tưởng về thực, quán tưởng tất cả thế gian không gì đáng vui, và quán tưởng về sự chết. Lúc nào con cũng giữ các điều đó trước mặt.”
Phật bảo đồng tử: “Hôm nay con đã tự ký thuyết quả Nhất lai.”
Đồng tử Trường Thọ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, xin thỉnh Ngài thọ thực tại nhà con.” Rồi Thế Tôn im lặng nhận lời.
Gia đình của đồng tử Trường Thọ liền cho sửa soạn đồ ăn thức uống tinh khiết, ngon lành, cung kính cúng dường. Sau khi thọ thực xong, Thế Tôn thuyết pháp thêm cho đồng tử Trường Thọ, chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Ghi chú:
[*] Bốn loại thức ăn, tứ thực (āhārā), theo Tỳ-khưu Giác Giới, Kho tàng Pháp học (2005):
1. Đoàn thực (kabaliṅkārāhāra) là vật thực thô tế mà chúng sanh ăn uống nhai nếm như cơm cháo v.v... để nuôi dưỡng thân sắc pháp. Khi liễu tri đoàn thực cũng sẽ liễu tri tham phát sinh từ Ngũ dục.
2. Xúc thực (phassāhāra) là xúc tâm sở, sự hội tụ của căn - cảnh - thức sẽ làm duyên cho thọ sinh khởi. Khi liễu tri xúc thực cũng sẽ liễu tri tam thọ.
3. Tư niệm thực (manosañcetanāhāra) là tư tâm sở, sự cố ý hành động tạo ra thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, sẽ làm nhân cho quả tái tục trong các hữu. Khi đạt tri được tư niệm thực cũng sẽ đạt tri ba ái.
4. Thức thực (viññāṇāhāra) là thức uẩn hay tâm thức, pháp làm duyên trợ danh sắc. Khi đạt tri được thức thực cũng sẽ đạt tri danh sắc.
Đoàn thực là sắc vật thực, còn xúc thực, tư niệm thực và thức thực là danh vật thực. Gọi là vật thực vì các pháp ấy nâng đỡ nuôi dưỡng danh pháp và sắc pháp, làm cho sự sống được phát triển. – (SN 12.63, SĀ 373)
XVII.3 THẢO LUẬN
Trong khi bài kinh của Tạp A-hàm chấm dứt khi Đức Phật rời khỏi nhà của Dīghāvu, bài kinh tương đương trong Tương ưng bộ thuật lại những gì đã xảy ra sau Đức Phật ra về. Bản kinh đó ghi như sau:
Không bao lâu sau khi Thế Tôn ra đi, cư sĩ Dīghāvu liền mệnh chung. Rồi một số tỳ-khưu đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên, rồi bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, người cư sĩ tên là Dīghāvu sau khi được nghe Thế Tôn giáo giới một cách tóm tắt, đã mệnh chung. Vị cư sĩ ấy tái sinh về nơi nào?”
“Này các tỳ-khưu, cư sĩ Dīghāvu là người hiền trí. Cư sĩ Dīghāvu đã tu tập đúng theo Pháp, không hành sai Pháp khiến Ta phải phiền lòng. Sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, cư sĩ Dīghāvu được hóa sinh, sẽ đắc Niết-bàn tại đấy, không trở lại thế giới này nữa.”
Như thế, trong phiên bản Pāli, các lời dạy sâu sắc của Đức Phật đã giúp cư sĩ Dīghāvu đang lâm trọng bệnh có thể buông bỏ mọi lo âu về cha của mình và từ đó, cư sĩ đắc quả vị Bất lai. Bên cạnh kết luận khác nhau, sự khác biệt khác giữa hai phiên bản liên quan đến sáu pháp quán tưởng mà Đức Phật đã dạy cho Dīghāvu. Bản kinh trong Tương ưng bộ có ba pháp quán tưởng cuối khác với bản Tạp A-hàm là:
• quán tưởng về từ bỏ,
• quán tưởng về ly tham,
• quán tưởng về đoạn diệt.
Các pháp quán tưởng này, trong cùng một trình tự, tương tự như các pháp quán tưởng trong chương trình hành thiền được phác họa trong bài kinh Girimānanda (AN 10.60), đã được giới thiệu trong Chương 12 và sẽ được thảo luận thêm trong phần kết luận.
Ba pháp quán tưởng đầu tiên, chung cho hai phiên bản của bài kinh, tương ứng với ba đặc tướng của đời sống, giáo lý căn bản để phát triển tuệ giác trong tư tưởng Phật giáo Sơ kỳ. Ba pháp quán tưởng ấy là:
• quán tưởng về vô thường trong tất cả các hành,
• quán tưởng về khổ (dukkha) trong những gì là vô thường,
• quán tưởng về về vô ngã trong những gì là khổ.
Ba quán tưởng này phản ánh một mô hình cơ bản trong tu tập tuệ giải thoát. Nền tảng được đặt ra là có sự nhận thức rõ ràng và liên tục về sự kiện thực tế là tất cả các hành (saṅkhāra, pháp hữu vi, có điều kiện) có bản chất thay đổi, không ngoại lệ. Tiếp đến là cái nhìn sâu sắc rằng những gì là vô thường không thể mang lại sự hài lòng lâu dài, vì thế là khổ (dukkha). Cái gì không thỏa lòng và luôn luôn có tính chất thay đổi thì không thể xem như là “tự ngã”, bởi vì theo định nghĩa, “ngã” phải là cái gì thường tồn, không thay đổi (theo quan niệm về ngã trong tư tưởng Ấn Độ cổ đại). Sự thông hiểu này dẫn đến pháp quán tưởng về vô ngã, anattā. Chính xác là sự tự do không còn chấp thủ bắt nguồn tự nhận thức về khổ tạo thêm nhiên liệu để tiến sâu vào nhận thức về vô ngã.
Trong phương diện thực hành, trau dồi ba pháp quán tưởng này bắt đầu bằng cách ghi nhận tất cả các khía cạnh mà hành giả trải nghiệm như là một tiến trình, như là một cái gì đó luôn luôn thay đổi. Khi nhận thức về vô thường như thế được thiết lập tốt, hành giả tiếp tục nhận thức tiến trình trải nghiệm về sự đổi thay đó với thái độ không thỏa lòng và thất vọng. Vẫn duy trì nhận thức được cùng một tiến trình thay đổi, vô thường ấy, tiếp theo hành giả nuôi dưỡng một thái độ sẵn sàng buông bỏ các khuôn mẫu đồng hóa nhân thân với những gì đang trải nghiệm và buông bỏ ý tưởng sở hữu bất kỳ khía cạnh nào của trải nghiệm đó – buông bỏ các ý niệm về ngã (tôi) và ngã sở (của tôi).
Dựa trên mô hình cơ bản này để tu tập phát triển tuệ giác, thay vì tiếp tục với các pháp quán tưởng về từ bỏ, ly tham, và đoạn diệt như trong bản kinh Nikāya, phiên bản Tạp A-hàm liệt kê tiếp theo ba pháp quán tưởng sau đây:
• quán tưởng về các vật thực,
• quán tưởng về nhàm chán đối với toàn thế giới,
• quán tưởng về cái chết.
Đầu tiên trong ba pháp này, quán tưởng về các vật thực, rất có thể là về bốn loại thức ăn (tứ thực, āhārā):
• đoàn thực,
• xúc thực,
• tư niệm thực,
• thức thực.
Những lời giảng dạy về các loại dinh dưỡng ấy cho thấy cách thức bốn loại thức ăn này nuôi dưỡng sự liên tục của hiện hữu và là những điều kiện thiết yếu cho sự hiện hữu đó. Đoàn thực cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể; xúc thực nuôi dưỡng cảm giác. Cũng giống như sự kích thích của cơn đói thể chất khiến ta phải đi tìm thức ăn, thèm khát trong tâm ý về các kích thích dẫn đến kết quả tìm kiếm sự tiếp xúc. Tư niệm là một chất nuôi dưỡng căn bản theo quan điểm của giáo lý về nghiệp trong Phật giáo Sơ kỳ, đại diện cho ảnh hưởng tạo điều kiện của các hành động cố ý để xác định một cá thể là gì, như thế nào và sẽ trở thành qua các hoạch định và khát vọng. Cuối cùng, mong muốn được trải nghiệm như thế là phương cách mà thức uẩn, sự nhận biết, nuôi dưỡng sự liên tục của hiện hữu.
Quán tưởng về bốn loại thức ăn và phương cách chúng nuôi dưỡng và từ đó tạo điều kiện cho sự tiếp tục hiện hữu của một cá nhân có thể giúp dẫn đến một nhận thức mạnh mẽ đưa đến giác minh, trong ý nghĩa nó giúp hành giả thấy được mức độ mà sự hiện hữu tùy thuộc vào các loại thức ăn này.
Hai pháp quán tưởng khác trong phiên bản Tạp A-hàm là quán tưởng về sự nhàm chán đối với toàn thế giới và quán tưởng về chết. Quán tưởng về sự nhàm chán đối với toàn thế giới đã được đề cập trong bài kinh Girimānanda ở Chương 12 và sẽ được thảo luận thêm trong phần kết luận của cuốn sách. Trong bối cảnh hiện tại của chương này, đây là một phần nối tiếp tự nhiên từ quán tưởng các loại dinh dưỡng đưa đến sự giảm thiểu hoan lạc của hành giả đối với hiện hữu. Tiếp theo là quán tưởng về cái chết để giúp hành giả chấp nhận sự tử vong không tránh được, một đề tài tôi sẽ trình bày chi tiết ở Chương 24.
Như đã đề cập trong phần giới thiệu của chương này, một đóng góp cụ thể của bài kinh là ghi nhận về mối quan hệ gia đình tại thời điểm cận kề cái chết. Gia chủ Jotika cố gắng khuyên con trai của mình là Dīghāvu nên sử dụng cơ hội quý giá này để tăng tiến phát triển tuệ giác và tăng tiến tâm ý buông xả trong sự hiện diện của Đức Phật. Thật ra, Dīghāvu đã có các phẩm chất cao quý và quen thuộc với các pháp quán tưởng đã được đức Phật đề cập. Tuy nhiên, dường như vì lo lắng về cha mình đã ngăn cản anh ta chuyên tâm vào các pháp quán tưởng đó. Thái độ của gia chủ Jotika trong tình huống này là mẫu mực của cách thức chúng ta nên áp dụng khi người mà ta yêu quý đang cận kề với cái chết. Mục đích chính là khuyến khích người sắp chết nên buông bỏ những quan tâm và lo âu, không nên bị vướng bận vào bất cứ điều gì. Theo cách này, phù hợp với cơ bản của các lời Đức Phật dạy cho Dīghāvu, chính gia chủ Jotika cũng tự thực hành và đồng thời khuyến khích con trai của mình thực hành một điều quan trọng nhất khi đối mặt với cái chết: tâm không chấp thủ.
* * *
SN 55.3
DĪGHĀVU
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản dịch tiếng Anh của Tỳ-khưu Bodhi
Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, cư sĩ Dīghāvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Dīghāvu thưa với cha là Jotika:
“Xin cha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh con, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ‘Bạch Thế Tôn, cư sĩ Dīghāvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.’ Rồi nói: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Ngài đi đến nhà cư sĩ Dīghāvu vì lòng từ mẫn.’”
“Ðược, này con,” gia chủ Jotika trả lời, rồi đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, rồi bạch theo lời của Dīghāvu. Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của cư sĩ Dīghāvu. Sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Thế Tôn nói với cư sĩ Dīghāvu: “Này Dīghāvu, con có kham nhẫn được chăng? Con có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không tăng trưởng?”
“Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Ðau đớn kịch liệt nơi con không có giảm thiểu, chúng tăng trưởng. Chúng có dấu hiệu tăng trưởng, không có dấu hiệu giảm thiểu.”
“Do vậy, này Dīghāvu, hãy học tập như sau: ‘Tôi sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
‘Tôi sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với đối với Pháp: Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
‘Tôi sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với đối với Tăng: Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng, chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
‘Tôi sẽ thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định’. Hãy học tập như thế.”
“Bạch Thế Tôn, đối với bốn Dự lưu phần do Thế Tôn thuyết giảng, tất cả các pháp ấy đều có ở trong con. Con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất động đối với Phật ... đối với Pháp ... đối với Tăng ... Con thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính ... đưa đến thiền định.”
“Do vậy, này Dīghāvu, sau khi đã an trú trong bốn Dự lưu phần này, hãy tu tập thêm sáu minh phần pháp (cha vijjābhāgiye dhamme). Ở đây, này Dīghāvu, hãy trú, quán tưởng vô thường trong tất cả các hành, quán tưởng khổ trong những gì là vô thường, quán tưởng vô ngã trong những gì là khổ, quán tưởng về từ bỏ, quán tưởng về ly tham, quán tưởng về đoạn diệt. Hãy học tập như thế.”
“Bạch Thế Tôn, đối với sáu minh phần pháp được Thế Tôn thuyết giảng này, chúng đều có ở trong con và con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con trú, quán tưởng vô thường trong tất cả các hành, quán tưởng khổ trong những gì là vô thường, quán tưởng vô ngã trong những gì là khổ, quán tưởng về từ bỏ, quán tưởng về ly tham, quán tưởng về đoạn diệt. Tuy nhiên bạch Thế Tôn, con có ý nghĩ sau đây: ‘Sau khi mình chết đi, mong rằng gia chủ Jotika này không phải rơi vào cảnh khốn khổ.’”
“Này Dīghāvu, chớ có quan tâm như vậy. Hãy chăm chú lắng nghe những gì Thế Tôn đang nói cho con.”
Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới cho cư sĩ Dīghāvu, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Không bao lâu sau khi Thế Tôn ra đi, cư sĩ Dīghāvu liền mệnh chung.
Rồi một số tỳ-khưu đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên, rồi bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, người cư sĩ tên là Dīghāvu sau khi được nghe Thế Tôn giáo giới một cách tóm tắt, đã mệnh chung. Vị cư sĩ ấy tái sinh về nơi nào?”
“Này các tỳ-khưu, cư sĩ Dīghāvu là người hiền trí. Cư sĩ Dīghāvu đã tu tập đúng theo Pháp, không hành sai Pháp khiến Ta phải phiền lòng. Sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, cư sĩ Dīghāvu được hóa sinh, sẽ đắc Niết-bàn tại đấy, không trở lại thế giới này nữa.”
***
Như vậy, một người cư sĩ Phật giáo nếu bệnh nặng thì nên bám chặt vào 4 niềm tin và 6 pháp quán dưới đây thì sẽ làm chủ được chấm dứt sinh tử luân hồi, đó là:
@ 4 niềm tin:
1. Phật là bậc giác ngộ, làm chủ sinh lão bệnh tử.
2. Pháp là chân lý được Phật tuyên thuyết, đưa đến giác ngộ giải thoát.
3. Tăng là những người thực hành theo Pháp và đạt kết quả giải thoát.
4. Giới là những hành động đạo đức cụ thể hóa từ Pháp Phật giúp đưa đến sự giải thoát.
@ 6 pháp quán:
1. Quán tưởng vô thường trong tất cả các hành,
2. Quán tưởng khổ trong những gì là vô thường,
3. Quán tưởng vô ngã trong những gì là khổ,
4. Quán tưởng về thực,
5. Quán tưởng tất cả thế gian không gì đáng vui,
6. Quán tưởng về sự chết.
THÚ VỊ HAY THÚ ĐAU THƯƠNG
THÚ VỊ HAY THÚ ĐAU THƯƠNG
Quý vị thân mến!
Sau một trận chiến, Phương Hằng tôi mới hiểu và suy ngẫm ra hai từ XÃ HỘI nó phức tạp đến không tưởng không ngỡ. Tôi đã va chạm đủ các loại thành phần nên tôi mới thấu hiểu được con người ta sống hơn nhau ở cái TÂM và cái ĐỨC.
Khi đụng vào những quyền lợi riêng tư của ai đó, đầu tiên thì CÁI TÔI xuất hiện, sau cái tôi đó là CÁI TÂM xuất hiện, cái TÂM DỮ hay TÂM LÀNH nó được thể hiện qua BẢN CHẤT BỘC LỘ của mỗi con người. Bình thường thì chúng ta không thể nhìn ra được, bởi nó được che đậy ở hoàn cảnh, địa vị và vỏ bọc bên ngoài, nhất là những người có chút thành công, có chút địa vị, có chút khôn ngoan ma mãnh, đều tạo cho chúng ta cảm giác an toàn. Nhưng xin thưa quý vị, tôi đã có 34 năm để trải nghiệm cuộc đời. Tôi đã va chạm rất nhiều loại người trong xã hội, mà loại người đáng sợ nhất là loại người trí thức và thành đạt. Họ giấu rất sâu cái sự NHẪN TÂM ở bên trong, họ làm những điều không tưởng không ngỡ, cho nên đã có biết bao nhiêu điều rất bất ngờ xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Toàn là những người hiểu biết, có địa vị xã hội, có tài nhưng KHÔNG CÓ ĐỨC. Tôi đang nói về những người trí thức, sự hiểu biết của họ khi đã PHỤC VỤ cho những điều tồi tệ thì họ có TRĂM MƯU NGHÌN KẾ để thực hiện cái tôi vĩ đại trong con người của họ. Đến khi chúng ta biết ra, nhận ra thì những gì họ làm ra, tạo ra trong cuộc đời này có khi được ghi vào lịch sử. Họ đã mang trong người một loại CHỦNG TỬ rất ác độc, họ mới tạo ra sóng ra gió để làm nguy hại đến cuộc sống của loài người. Nếu không có loại CHỦNG TỬ đó họ đã không có máu lạnh để trở thành sát thủ, hung thủ như chúng ta đã từng biết. Có những loại người họ ác đến mức lịch sử phải ghi danh. Phải chăng họ được sinh ra để làm điều đó với nhân loại. Khó mà tìm một câu trả lời phải không quý vị.
Tôi xin quay lại câu chuyện của đời mình. Tôi cũng đã gặp rất nhiều người nhẫn tâm, kể cả khi là ruột thịt. Chính gia đình của tôi, những người chị, người anh của tôi đã dạy cho tôi một bài học vỡ lòng, để làm hành trang bước ra đời để sống. Họ đã đưa tôi xuống đến tận hang mồ dù tôi chẳng có lỗi gì. Tôi chẳng có làm gì để nguy hại đến ai. Lỗi chăng là lỗi của định mệnh, vì tôi không chọn cho mình nơi sinh ra. Trong tôi không có hai chữ khái niệm về gia đình. Tôi đã có một nền tảng mà chính gia đình tôi đã trang bị cho tôi để làm hành trang bước vào đời, đó là sự ghẻ lạnh, lòng đố kỵ và muốn hủy diệt tôi. Phải chăng tôi đã nợ họ một món nợ từ vô lượng kiếp để tôi phải vào đúng vị trí đó, để họ đoạ đày, ngược đãi và bất công với tôi. Nhưng đâu đó, chính những điều ấy đã trở thành vốn sống của tôi. Từ những khổ đau mà họ đã tạo cho tôi, tôi đã mang tất cả những “hành trang” đó để bước ra đời. Tôi đã CHỊU và ĐỰNG tất cả những gì cay đắng nhất, hờn tủi nhất, để tôi biết đứng lên, để thương lấy chính mình và bảo vệ mình. Tôi như một bông hoa nở giữa sa mạc. Và chính những điều đó đã dạy cho tôi biết sống, biết yêu thương, biết che chở cho những người yếu đuối thấp cổ bé họng, cũng như tôi đã từng không được nói tiếng nói của lòng mình và vì sao tôi khổ.
Người ta thường nói chết vì thiếu hiểu biết, còn tôi thì ngược lại tôi chết vì hiểu biết. Nhưng tôi không ân hận, bởi vì tôi dám sống cho cái TÔI mãnh liệt của mình, đó là thương người nghèo, bảo vệ cái đúng và không khuất phục sức mạnh của quyền lực và đồng tiền. Cả đời tôi chưa biết quỳ, cũng chẳng biết bò, tôi biết đứng với đôi chân lạnh, trái tim ấm áp vị tha, luôn biết lắng nghe khổ đau, thổn thức của người khác. Cả đời tôi khổ là khổ vì người khác, dám sống cho người khác sống, dám hi sinh cho người khác, dám cho người khác cơ hội, cũng như tôi đã từng nhận lấy nhiều cơ hội của người khác cho tôi. Có những lúc tôi tự nghĩ rằng, chẳng lẽ tôi có mặt trên cuộc đời này để người đời đày đọa tôi, và cả chính tôi cũng đày đoạ tôi. Bởi tôi không vô cảm, vô can, vô tâm, vô tình, cứ mãi lo cho hết người này đến người kia, hết công cuộc này đến công cuộc kia. Tất cả là chỉ muốn tốt cho đời, cho người, phải chăng đó cũng là định mệnh. Tôi chưa từng lừa dối ai, chưa từng làm tổn thương ai, và cũng chưa từng mang một tâm địa xấu xa với ai. Nhưng cuộc đời nào có buông tha! Dù mình hết lòng hết dạ cũng chỉ nhận lấy những cay đắng, mất mát, phũ phàng. Phải chăng đó là những cái quả mà tôi đã gieo từ vô lượng kiếp nên mới có thể vô lý như vậy. Chỉ có thể lý giải thế thôi! Vì tôi BIẾT BẰNG LÒNG để sống, để tiếp tục hành trình của đời mình. Có những lúc ai đó khen tôi đẹp, khen tôi giỏi, khen tôi thông minh, tôi nghe mỉa mai cay đắng làm sao. Tôi chỉ muốn sống một cuộc đời bình yên nhất có thể, nhưng thật sự không thể! Vì tôi tin chắc tôi đã mang sứ mệnh đến cuộc đời này. Vì những điều xảy ra với tôi nó đều là không tưởng, không ngỡ, nhưng KHÔNG THỂ TRỐN CHẠY, đó là những gì rất thật! Vì nó quá sức quá tầm với một người phụ nữ như tôi. Nhưng tại sao tôi đã vượt qua một cách ngoạn mục? Vì rất nhiều biến cố trong đời tôi, THƯƠNG TRƯỜNG, ĐOẠN TRƯỜNG và những TÌNH TRƯỜNG mà tôi đã trải qua, nó như một định mệnh. Vì suy cho cùng không ai có lỗi với ai. Có chăng đó là một CUỘC GIAO DỊCH ĐỊNH MỆNH.
Tôi bắt đầu BIẾT BẰNG LÒNG ở tuổi 30 và xem mọi thứ diễn ra với tôi như một LẬP TRÌNH nhất định. Tôi đã bảo hoà mọi cảm xúc vì tôi nhận ra mọi thứ thật VÔ THƯỜNG, PHÙ DU và PHÙ PHIẾM, nên tôi không quá vui cũng chẳng quá buồn, và không bao giờ gục ngã trước một biến cố nào. Vì tôi đã xác định cuộc đời này là một trò chơi trí tuệ. Nên có nhiều người đã kinh ngạc trước sự chịu đựng của tôi. Nhưng tôi đã xác định tôi là một CHIẾN BINH giữa cuộc đời này. Tôi không ăn mày tình cảm của ai, cũng không muốn va chạm và phán xét cuộc đời ai, vì tôi hiểu mỗi người là một số phận, ai cũng mưu cầu. Nhưng để đạt được là một điều khó tưởng.
Tôi đã thôi không phán xét người khác đã rất nhiều năm rồi, bởi không ai sống thay cho ai, không ai chịu đau khổ dùm ai, và kể cả cái chết cũng không ai chết thay cho ai được. Tôi đã ngộ ra rất nhiều năm, và vì sao tôi sống khép kín, vì tôi hiểu một điều rằng không thứ gì trên đời này là mãi mãi. Kể cả tình yêu thương cha mẹ, anh em ruột thịt, và con cái, cũng chỉ là tạm bợ, vì có ai sống trên đời này mãi mãi đâu. Nên tôi luôn biết trân quý những gì còn có thể. Nhưng khi không thể, tôi xem nó là vạn sự tùy duyên. Cho nên những gì đã xảy ra với tôi, chỉ làm cho tôi càng nhận biết thêm những gì tôi nghĩ, tôi thấy, tôi biết trong cuộc đời này rõ ràng là không sai. Vì tôi không thể thay đổi cuộc đời này. Những gì đến nhất định phải đến, những gì đi nhất định phải đi, dù có đau buồn hay mệt mỏi thì nó cũng là định mệnh rồi. Khi chúng ta biết bằng lòng thì chúng ta đỡ đau đớn hơn là giãy dụa. Đó là cách tôi tồn tại để sống.
Trải qua nhiều thú đau thương, tôi mới thấy cuộc đời này thật là thú vị. Tôi may mắn hay là tôi bất hạnh cũng không thay đổi được định mệnh, nên tôi biết bằng lòng. Được - mất, có - không tôi đã không còn quan trọng. Vì đối với tôi tất cả là sự trải nghiệm. Tôi kiếm tiền để có phương tiện giúp đời giúp người, chứ không phải mục tiêu tôi kiếm tiền để phục vụ cho cái tôi của mình. Nên tôi rất khác biệt. Không có tiền tôi sẽ khổ, nhưng nếu có tiền mà làm khổ người khác thì tôi không làm. Tôi chọn cho tôi có tiền để lo cho người khác. Đó là lý tưởng sống của tôi.
Câu chuyện xảy ra 6 tháng nay tôi lại càng thêm thấm thía 2 chữ TÌNH NGƯỜI và LÒNG NGƯỜI. Hai chữ lòng người nghe ngao ngán, lạnh lẽo, nhẫn tâm, nếu không nói là quá ác độc. Tôi tin chắc khi con người sống không có tâm thì kết quả không bao giờ tốt đẹp, vì tất cả những việc mình làm trời đều biết, cho dù có che đậy, có bao bọc, có kín đáo nhường nào rồi cũng sẽ đến một ngày CÁI QUẢ cũng sẽ giúp mình nhận ra. Cái giá trị sống sẽ phản ảnh lại tất cả những gì mà chúng ta ĐÃ GIEO, dù vô tình hay cố ý chính chúng ta sẽ nhận ra đó là QUY LUẬT BẤT BIẾN. Tôi đã trở thành một diễn viên bất đắc dĩ với bao vai diễn và cuộc đời, với vô vàng cung bậc cảm xúc, tôi ví nó như một bản nhạc buồn mà tôi đã hát đi hát lại trong ngần 34 năm, lúc cao lúc thấp, lúc trầm, lúc bổng, lúc du dương với ngày qua tháng lại, đến một lúc nào đó sẽ dừng ở một nốt LẶNG.
Quý vị ơi, THÚ VỊ hay THÚ ĐAU THƯƠNG, tôi đã tự hứa với mình là phải sống tử tế với chính mình. Thương và trân trọng mình như một ĐÓA HOA, dù sẽ tàn nhưng đã từng rực rỡ!
Nguyễn Phương Hằng
Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021
Mười một Tri kiến giải thoát
Mười một Tri kiến giải thoát
Tu theo Phật giáo là bắt đầu tu tập pháp ly dục ly bất thiện pháp mà ly dục ly bất thiện pháp là phải dùng tri kiến, nhưng tri kiến phàm phu không thể giải thoát được, vì thế phải sử dụng tri kiến giải thoát, nhưng tri kiến giải thoát thì phải học tập. Trong đạo Phật có mười một tri kiến giải thoát. Bởi vậy người nào muốn tu theo Phật giáo để được giải thoát đều phải học những tri kiến này. Vậy mười một tri kiến giải thoát này như thế nào?
Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật giải thích mười một tri kiến giải thoát để mọi người cùng hiểu biết rõ ràng hơn, để áp dụng vào con đường tu tập của mình đến nơi, đến chốn, để kết quả đạt được tâm BẤT ĐỘNG hoàn toàn.
Tri kiến giải thoát thứ I (Sắc thân Tứ đại duyên hợp)
Đây là tri kiến giải thoát thứ nhất chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ nhất: Chư Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không biết rõ các sắc? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đối với sắc pháp không như thật biết tất cả loại sắc thuộc bốn đại và sắc do bốn đại hợp thành. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không biết rõ các sắc”.
Câu này đức Phật dạy rất rõ, nói đến SẮC là phải hiểu: SẮC do BỐN ĐẠI hợp thành, không có SẮC nào mà ngoài BỐN ĐẠI mà có được. Vậy SẮC do BỐN ĐẠI hợp thành là gì?
Bốn đại là ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA. Một vị Tỳ kheo tu theo Phật giáo mà không hiểu SẮC là do ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA hợp thành thì không phải là vị Tỳ kheo đệ tử Phật.
Một người hiểu rõ SẮC là do BỐN ĐẠI hợp thành mà SẮC hợp thành là pháp VÔ THƯỜNG mà vô thường là khổ. Do hiểu biết như vậy nên người ấy không dính mắc và không chấp đắm vào SẮC tức là không chắp đắm vào thân TỨ ĐẠI. Không chắp đắm vào thân TỨ ĐẠI là người có tri kiến giải thoát thứ nhất.
Tri kiến giải thoát thứ II (Nghiệp tướng)
Đây là tri kiến giải thoát thứ hai, chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ hai: Chư Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không khéo phân biệt các tướng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không như thật biết kẻ ngu và nghiệp tướng của người đó, kẻ trí và nghiệp tướng của người đó. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không khéo phân biệt các tướng”.
Tri kiến thứ nhất nói về SẮC còn ở đây đức Phật dạy tri kiến thứ hai nói về NGHIỆP TƯỚNG. Vậy NGHIỆP TƯỚNG là cái gì?
Như quý vị đều biết con người ai cũng có thân, nhưng thân do bốn đại: ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA hợp lại mà thành gọi là SẮC THÂN. Nhưng tại sao mọi người lại có sắc thân khác nhau; người có sắc thân to lớn; người có sắc thân nhỏ bé; người có sắc thân đẹp đẽ, người có sắc thân xấu xí; người có sắc thân trắng trẻo; người có sắc thân đen thui, đen thít v.v... Tất cả những hình tướng sai khác của thân người này không giống vói thân người kia đều được gọi là NGHIỆP TƯỚNG.
Cho nên trên sắc thân của mọi người đều có TƯỚNG RIÊNG BIỆT. Vậy tướng riêng biệt của mọi người này từ đâu mà có?
Do từ nghiệp mà có các TƯỚNG RIÊNG này. Vậy NGHIỆP là cái gì?
NGHIỆP là những hành động của Ý THỨC, của LỜI NÓI, của TAY CHÂN. Ba chỗ này thường là nơi xuất phát NGHIỆP. cho nên NGHIỆP gồm có NGHIỆP THIỆN, NGHIỆP ÁC.
NGHIỆP THIỆN là những hành thân, miệng, ý làm việc lành, còn NGHIỆP ÁC là do hành động thân, miệng, ý làm việc ác. Làm việc lành là không làm khổ mình khổ người, còn làm việc ác là làm khổ mình khổ người. Cho nên trong đạo Phật xác định rất rõ thiện ác phân minh không thể lầm lộn được.
Các tướng riêng biệt của mỗi người khác nhau là do làm thiện nhiều hay làm thiện ít hoặc làm ác nhiều hay làm ác ít. Do sống ác hay thiện mà tướng có đẹp xấu, có cao thấp, có tật nguyền hay không tật nguyền. Có kẻ ngu lại có người thông minh đó dều do nghiệp mà ra cả.
Tướng theo nghiệp mà có nên nghiệp đâu thì xác định tướng đấy.
Nhờ có tri kiến về TƯỚNG nên chúng ta sống trong chánh nghiệp thường làm những điều thiện và tăng trưởng những điều thiện.
Đây là tri kiến về NGHIỆP TƯỚNG, nhờ hiểu biết về NGHIỆP TƯỚNG nên thân tâm không làm điều ác. Đó là tri kiến giải thoát thứ hai trong đạo Phật.
Tri kiến giải thoát thứ III (Dục tầm, Sân tầm, Hại tầm)
Đây là tri kiến giải thoát thứ ba. Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ ba: Chư Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thọ dụng dục tầm khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại, thọ dụng sân tầm khởi lên... (như trên)... thọ dụng hại tầm khởi lân... (như trên)... thọ dụng các ác, bất thiện pháp khởi lên, không từ bỏ, không tránh né, không chấm dứt, không làm cho không tồn tại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không trừ bỏ trứng con bò chét”.
Nếu một người có tri kiến giải thoát thứ ba này thì rất thông suốt những tâm niệm ham muốn, những tâm niệm sân hận, những tâm niệm làm khổ mình làm khổ người. Khi những tâm niệm đó khởi lên nhất định họ không bao giờ nuôi dưỡng lòng ham muốn, lòng sân hận, lòng làm khổ mình khổ người. Họ sẽ chấm dứt, diệt ngay những tâm niệm ấy Những tâm niệm ấy là những tâm niệm đau khổ. Bởi tri kiến giải thoát thứ ba là tri kiến hiểu về lòng ham muốn, về lòng sân giận, về những ý suy nghĩ làm khổ mình, khổ người. Khi tri kiến hiểu rõ các ác pháp đó thì khi tâm niệm khởi lên những ác pháp đó nó liền diệt và loại trừ ra khỏi tâm.
Tóm lại chúng ta đã học được ba tri kiến giải thoát:
1- Tri kiến về SẮC THÂN do BỐN ĐẠI hợp thành.
2- Tri kiến về NGHIỆP TƯỚNG.
3- Tri kiến về DỤC TẦM, SÂN TẦM, HẠI TẦM.
Tri kiến giải thoát thứ IV (Phòng hộ sáu căn)
Kế tiếp chúng ta học tri kiến thứ tư. Muốn hiểu rõ tri kiến giải thoát thứ tư thì chúng ta hãy nghe lời dạy của đức Phật: “Tri kiến giải thoát thứ tư: Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không băng bó vết thương? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì làm cho con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; Tỳ-kheo không tự chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì con mắt, không thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; Tỳ-kheo không chế ngự nguyên nhân ấy, không hộ trì ý căn, không thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không băng bó vết thương”.
Tri kiến giải thoát thứ tư là tri kiến phòng hộ sáu căn tức là sự hiểu biết giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình không cho dính mắc chấp đắm sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Muốn giữ gìn được như vậy thì phải sống độc cư trọn vẹn. ĐỘC CƯ là một phương pháp phòng hộ sáu căn đệ nhất. Người biết sống ĐỘC CƯ là người có tri kiến giải thoát thứ tư.
Tri kiến giải thoát thứ V (Tuỳ duyên chia sẻ pháp)
Tri kiến giải thoát thứ năm, muốn hiểu rõ nó chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ năm: Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không xông khói? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có thuyết giảng rộng rãi cho các người khác biết Chánh pháp mình được nghe, được thọ trì. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không xông khói”.
Khi chúng ta đã thông suốt bốn tri kiến giải thoát trên đây là chúng ta có một đời sống bình an không có một ác pháp nào tác động làm tâm chúng ta buồn khổ lo rầu ưu bi phiền não. Khi tâm chúng ta được giải thoát như vậy chúng ta nên đem dạy lại cho người khác hiểu biết để mọi người được giải thoát như chúng ta.
Đến tri kiến giải thoát thứ năm Phật dạy: Mình nên đem những điều hiểu biết của mình đã được giải thoát dạy lại cho người khác để họ cùng giải thoát như mình.
Tri kiến giải thoát thứ năm là thực hiện lòng tốt của mình với mọi người, đem sự lợi ích của mình cho mọi người để cùng nhau lợi ích.
Tri kiến giải thoát thứ VI (Dẹp bỏ tâm nghi ngờ)
Đến tri kiến giải thoát thứ sáu, chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ sáu: Và này, các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thỉnh thoảng có đến gặp những Tỷ-kheo đa văn được trao cho truyền thống giáo điển, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì matika (các bản tóm tắt) nhưng không hỏi, không trả lời các vị ấy: “Thưa Tôn giả, điểm này là thế nào? ý nghĩa này là gì?” Những bậc Tôn giả ấy không làm cho hiển lộ những điều chưa hiển lộ, không làm cho rõ ràng những điều chưa được rõ ràng, và đối với những nghi vấn về Chánh pháp, các vị ấy không đoạn trừ nghi Tỳ-kheo không biết chỗ nước có thể lội qua”.
Tri kiến giải thoát thứ sáu là tri kiến giải trừ mọi tâm nghi ngờ nó giúp cho mọi người không còn nghi ngờ Chánh pháp của Phật.
Đạo Phật dạy tu tập sẽ làm chủ bốn sự đau khổ: SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT, nhưng có người không tin cho rằng lời dạy này là lường gạt người chớ làm gì mà làm chủ được sự sống chết.
Khi gặp trường hợp như vậy chúng ta giải thích cho họ hiểu biết cách thức làm chủ như thế nào.
Làm chủ SINH tức là làm chủ cuộc sống, làm chủ cuộc cuộc sống là làm chủ tâm mình. Ví dụ có người chửi mắng mình, mình không chửi mắng lại mà tâm vẫn an vui không giận hờn oán ghét người đó. Muốn được tâm như vậy thì chúng ta phải hiểu: Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta đều do nhân quả tác thành, vì thế những ác pháp đến với chúng ta là do trước kia chúng ta đã mang nhân quả ác đến với những người khác, bây giờ phải trả quả do nhân đời trước đã làm. Hiểu nhân quả được như vậy là tâm chúng an vui mà không tức giận phiền não. Hiểu được như vậy tức là tri kiến giải thoát chúng ta đã có.
Trên đời người ta hay tự làm khổ mình bằng cách NGHI NGỜ, người ta nói xấu mình, người ta hại mình v.v... Do sự nghi ngờ này mà làm chúng ta rất đau khổ tâm không được an vui.
NGHI NGỜ là một ác pháp chúng ta hãy cố gắng khắc phục và diệt trừ cho hết tâm NGHI NGỜ. Hết tâm NGHI NGỜ là được giải thoát.
Tri kiến giải thoát thứ sáu là tri kiến dẹp trừ tâm NGHI NGỜ, phá vỡ tâm NGHI NGỜ. Nếu chúng ta có tri kiến giải thoát thứ sáu là chúng ta không còn tâm NGHI NGỜ, Vì vậy chúng ta luôn luôn hãy sống với tri kiến giải thoát thứ sáu để cứu mình ra khỏi tâm NGHI NGỜ.
Tri kiến giải thoát thứ VII (Thông suốt Pháp và Luật)
Tri kiến giải thoát thứ bảy là tri kiến thông suốt pháp và luật của đức Phật. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ bảy: Và chư Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không biết rõ chỗ nước uống? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo, trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, không chứng đạt nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, không chứng đạt sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không biết chỗ nước uống”.
Tri kiến giải thoát thứ bảy là tri kiến pháp tu tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết và giới luật đức hạnh của Phật. Đó là tri kiến rất cần thiết cho một người tu theo Phật giáo. Vì không hiểu giới luật và pháp tu tập làm chủ sinh già, bệnh, chết của Phật giáo. Cho nên tri kiến giải thoát thứ bảy này đã xác định được ai là đệ tử Phật và ai là đệ tử của ngoại đạo.
Khi chúng ta có tri kiến giải thoát thứ bảy thì ngoại đạo không lường gạt chúng ta được. Bởi vậy kinh sách Đại Thừa và Thiền tông chỉ gạt những người không có tri kiến thứ bảy. Khi chúng ta đã học đến tri kiến thứ bảy đã làm chúng ta sáng suốt về Phật giáo hơn nữa.
Tri kiến giải thoát thứ VIII (Thông suốt Bát Chánh Đạo)
Tri kiến giải thoát thứ tám là một tri kiến giúp chúng ta hiểu rõ đường lối tu tập của Phật giáo. Vậy chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ tám: Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không biết về con đường. Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không như thật biết con đường Thánh đạo Tám ngành. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không biết đến con đường”.
Đến với đạo Phật là đến với con đường BÁT CHÁNH ĐẠO chỉ có đạo Phật mới có con đường này. Cho nên tri kiến giải thoát thứ tám xác định cho chúng ta biết. Người đến với đạo Phật mà không hiểu BÁT CHÁNH ĐẠO là không có tri kiến giải thoát thứ tám. Khi có tri kiến giải thoát thứ tám thì tà giáo ngoại đạo không thể lừa đảo được. Tà giáo ngoại đạo không thể có con đường BÁT CHÁNH ĐẠO. Khi có tri kiến giải thoát thứ tám thì Đại Thừa và Thiền Tông không thể lừa gạt chúng ta được mặc dù chúng mạo nhận BÁT CHÁNH ĐẠO nhưng chúng chẳng rõ phương pháp và cách tu tập.
Ví dụ:
1- Lớp CHÁNH KIẾN là phải học tri kiến giải thoát thứ nhất thấy SẮC là bốn duyên hòa hợp mà thành.
2- CHÁNH TƯ DUY là sự suy tư không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh.
3- CHÁNH NGỮ là lời nói phải ôn tồn nhã nhặn nhẹ nhàng êm ái khiến người nghe được an vui, không buồn rầu tức giận.
4- CHÁNH NGHIỆP là tất cả hành động thân miệng ý đều phải thực hiện những điều lành và luôn luôn ngăn những hành động làm những điều ác.
5- CHÁNH MẠNG là nuôi mạng sống bằng những thực phẩm không có giết hại chúng sinh, không có sự đau khổ, không có kêu là thảm thiết.
Trong năm lớp này toàn là học tập GIỚI LUẬT ĐỨC HẠNH mà đức Phật đã dạy trong kinh Phạm Võng.
6- Lớp CHÁNH TINH TẤN thì chúng ta tu tập pháp môn TỨ CHÁNH CẦN hằng ngày ngăn ác và diệt ác pháp.
7- Lớp CHÁNH NIỆM thì chúng ta tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ.
8- Lớp CHÁNH ĐỊNH thì chúng ta nhập các loại định như: SƠ THIỀN, NHỊ THIỀN, TAM THIỀN, TỨ THIỀN và thực hiện TAM MINH đến đây là con đường tu tập của Phật giáo là xong.
Tri kiến giải thoát thứ tám là tri kiến hiểu biết về BÁT CHÁNH ĐẠO.
Tri kiến giải thoát thứ chín là tri kiến TỨ NIỆM XỨ, nếu cuộc đời tu hành của chúng ta mà không có tri kiến này thì không bao giờ chúng ta tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết được. Bởi vậy tri kiến TỨ NIỆM XỨ rất quan trọng cho cuộc đời tu hành của chúng ta.
Tri kiến giải thoát thứ IX (Tứ Niệm Xứ)
Ngoài pháp môn TỨ NIỆM XỨ đạo Phật không còn có một pháp môn nào tu chứng đạo cả. Cho nên ngoại đạo không bao giờ tu chứng đạo vì không có pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Chúng hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ chín: Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không như thật biết về Bốn Niệm xứ. Như vậy này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không khéo léo với các chỗ đàn bò có thể ăn cỏ”.
Như vậy pháp môn TỨ NIỆM XỨ rất quan trọng cho con đường tu tập của chúng ta đi đến giải thoát thì tri kiến giải thoát thứ chín là điều chúng ta cần phải học tập cho nhuần nhuyển.
Khi tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ thì phải tu tập cho đúng cách của pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Trong kinh TỨ NIỆM XỨ Phật dạy TRÊN THÂN QUÁN THÂN nhưng nếu ai chưa tu tập TỨ CHÁNH CẦN mà vội tu tập TỨ NIỆM XỨ thì ngay đó bị ức chế tâm mà trở thành bị tẩu hỏa nhập ma. Cho nên tu tập TỨ NIỆM XỨ là tâm phải hết hôn trầm thùy miên và loạn tưởng, nếu còn hôn trầm loạn tưởng thì không nên tu tập TỨ NIỆM XỨ.
Cho nên trong tri kiến giải thoát nó đứng vào hành thứ chín như vậy người sơ cơ mới tu tập thì không nên tu tập mà chỉ biết trong học tập.
Tri kiến giải thoát thứ X (Thiểu dục tri túc)
Tri kiến giải thoát thứ mười là tri kiến biết đủ tức là tri kiến thiểu dục tri túc. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Tri kiến giải thoát thứ mười: Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt? Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi các vị tại gia vì lòng tin cúng dường các vật dụng, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỳ-kheo không biết nhận lãnh cho được vừa đủ. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo vắt sữa cho đến khô kiệt”.
Người tu sĩ Phật giáo mà không biết đủ, không thiểu dục tri túc là không phải là người tu sĩ Phật giáo mà là người tu sĩ của ngoại đạo. Người tu sĩ ngoại đạo tham danh tham lợi ham mê của cúng dường của đàn na thí chủ.
Tri kiến giải thoát thứ mười xác định cho chúng ta biết làm tu sĩ Phật giáo thì phải buông xả tất cả vật chất xuống hết, đời sống chỉ cón ba y một bát, lúc nào cũng xin ăn ai cho gì ăn nấy không nên khen chê. Ăn mặc bằng vải thô xấu bằng, vá víu mới đúng hạnh người tu sĩ ra khỏi cuộc đời.
Được nghĩ và sống như vậy là người đã thực hiện tri kiến giải thoát thứ mười, tri kiến buông xả, tri kiến thiểu dục tri túc mà người tu sĩ cần phải thực hiện không thể diện cớ này hay cớ khác.
Tri kiến giải thoát thứ mười một là tri kiến tôn kính tôn trọng những bậc tu hành chân chánh giới luật tinh nghiêm. Không được khinh khi những bậc trưởng lão trong hàng tu sĩ mặc dù họ không lãnh chức vụ gì trong giáo hội, nhưng họ là những người đã tu tập lâu năm chúng ta là những người hậu học nên phải cung kính tôn trọng họ. Khi gặp họ phải biết nhường chỗ ngồi chỗ tốt cho họ hoặc giúp đỡ họ khi họ đi đứng không vững vàng.
Tri kiến giải thoát thứ XI (Kính trọng các bậc Trưởng lão)
Hành động biết kính trên nhường dưới là tri kiến giải thoát thứ mười một mà một người tu sĩ như chúng ta rất cần học hỏi để trở thành một thói quen cung kính và tôn trọng mọi người. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật day: “Tri kiến giải thoát thứ mười một: Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo, đối với những Thượng tọa trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có thân nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có khẩu nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng, không có ý nghiệp đầy lòng từ đối với các vị ấy, trước mặt và sau lưng. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo đối với những Thượng tọa, trưởng lão, xuất gia đã lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lãnh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, sự tôn trọng đặc biệt. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp này, thì không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành mãn trong Pháp, Luật này”.
Mười một tri kiến giải thoát này nếu ai biết áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình cũng đã thấy tâm BẤT ĐỘNG chớ đâu cần phải tu tập nhiều pháp đâu. Mười một tri kiến này tu tập cũng đủ cho chúng ta ly dục ly bất thiện pháp. Bởi vậy đạo Phật đâu có ngồi thiền nhiều để ức chế ý thức mà chỉ có xả tâm thành tựu đạo giải thoát. Thiền của Phật giáo là TÂM BẤT ĐỘNG trong việc xả tâm ly dục ly bất thiện pháp chứ không phải tâm BẤT ĐỘNg bằng cách ức chế ý thức không cho niệm khởi như kiểu Thiền Tông Trung Quốc.
Đọc qua bài kinh này chúng ta phải nhớ lấy mười một tri kiến này để chúng ta tu tập không sai đường lạc lối và cũng không pháp môn nào của ngoại đạo lừa gạt mình được.
Trưởng lão Thích Thông Lạc