Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Thư gửi Tu viện Chơn Như


Hà Tĩnh, ngày 17/04/2013.

Kính gửi Ban quản lý Tu viện Chơn Như!

Thật không tả hết cảm xúc của con khi cầm được trên tay những cuốn sách và đĩa đầu tiên từ Ban quản lý Tu Viện Chơn Như gửi về. Niềm khao khát bấy lâu được gặp Chánh Phật pháp Nguyên thủy của Đức Phật Thích Ca nay đã thành hiện thực. Con vui mừng đến rơi nước mắt. Bao lâu nay cố công tìm cầu rồi bị lạc giữa một rừng Kinh sách và Pháp môn cũng như quý Tăng ni, con vừa siêng năng học hỏi tu hành vừa làm việc thiện. Trong quá trình tu tập con đã nẩy sinh rất nhiều điều nghi ngờ về tính chân thực của Kinh sách và quý Tăng ni, rồi từ đó con cảm thấy mình thật bất hạnh vì giữa cái thời bát nháo này khó có thể tìm được một nguồn thông tin thật đúng đắn để mà tu hành. Nhưng rồi con đã gặp được Tu viện Chơn Như và Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc. Con nhận ra con đường mà Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc đã đi là con đường đúng đắn với con đường mà Đức Phật Thích Ca đã từng chỉ dạy cho chúng sinh đi theo. Con quá hạnh phúc vì điều đó. Từ đó con quyết định chỉ nghiên cứu và tu học theo con đường của thầy Thích Thông Lạc chỉ lại mà thôi.
Ở quê con bây giờ số Phật tử đang tăng lên ngày một nhiều, nhưng có quá nhiều Phật tử tu theo Phật giáo một cách mù quáng và mê tín. Họ là những người nông dân chất phác cho đến cả những nhà trí thức học giả nhưng suốt đời chỉ biết cầu xin và tụng kinh, niệm Phật. Họ tin tưởng rằng như thế là đúng đắn mà không biết rằng mình đang lạc vào những pháp môn ngoại đạo, làm uổng một đời tu tập. Con thấy thật đau lòng. Nay con rất muốn giúp họ thoát ra khỏi những đường lối sai lầm đó mà không biết phải làm như thế nào, bởi thay đổi nhận thức và quan điểm của họ là chuyện không phải dễ. Nhất là khi họ đã tu một thời gian quá dài. Con nghĩ rằng chỉ khi cầm trên tay những cuốn sách và tài liệu của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc thì may ra con mới có thể thức tỉnh được họ. Con biết để gặp được chánh pháp và những bài giảng của thầy Thích Thông Lạc còn là phước duyên nữa. Nhưng con vẫn cầu mong cho họ tỉnh ngộ. Một điều làm con cảm thấy vui nữa đó là con nhận thấy trong số danh sách Phật tử tu theo Tu viện Chơn Như có cả Phật tử ở Nghệ An và Hà Tĩnh.
Con thật may mắn khi tìm đến được với Tu viện Chơn Như và Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc, dù bây giờ Ngài đã nhập diệt rồi. Con rất buồn và hơi lo lắng cho sự trường tồn và phát triển của Tu viện, nhưng con cũng cảm thấy tin tưởng Tu viện sẽ tiếp tục duy trì và phát triển với con đường và đạo hạnh mà Đức Trưởng lão đã vạch ra và dày công gầy dựng lại Chánh pháp nguyên thủy.

Mấy lời tâm sự ngắn gọn và chân thành của con xin gửi đến Tu viện Chơn Như vậy thôi. Từ xa con xin gửi tấm lòng cảm tạ sâu sắc đến cố Trưởng lão Thích Thông Lạc cùng quý Phật tử trong Tu viện Chơn Như. Con kính chúc quý Phật tử trong Ban quản lý và toàn thể Tu viện Chơn Như luôn vững niềm tin nơi chánh pháp và những lời dạy của Đức trưởng lão Thích Thông Lạc vô cùng đáng kính của chúng ta để duy trì Tu viện bền vững.

Con đã nhận được một số sách và đĩa dưới đây:


* Sách đã có:
1. Đường về xứ Phật (Trọn bộ 10 tập).
2. Giáo án rèn nhân cách (3 tập).
3. Những chặng đường tu học của người cư sỹ.
4. Sống mười điều lành.
5. Thanh quy Tu viện Chơn Như.
6. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
7. Lịch sử chùa Am.
* Đĩa đã có:
1. Đạo Phật làm chủ Sinh – Già – Bệnh – Chết.
2. Khéo tu kẻo phí một kiếp người.
3. Pháp tu cho người cư sỹ.
4. Căn bản tu hành từ thấp đến cao.
5. Năm giới Thiện pháp của con người.
6. Pháp như lý tác ý trong định niệm hơi thở và thân hành niệm.
7. Như lý tác ý.
8. Đường lối tu tập của Đạo Phật.
9. Được thân người là khó.
10. Ngưỡi đã đến với chúng ta.
11. Không có thế giới siêu hình – Chỉ có nhân quả luân hồi.
12. Đạo Phật là đạo tự giác, tự nguyện.

Nay con muốn xin thêm một số sách dưới đây để cho con được tiện và đầy đủ tư liệu hơn trên con đường tu tập và tạo duyên giáo hóa chúng sinh:

  1. Những lời gốc Phật dạy (4 tập).
  2. Văn hóa Phật giáo truyền thống (2 tập).
  3. Người Phật tử cần biết (2 tập).
  4. Thiền căn bản.
  5. Đạo đức làm người (Tập I, II…).
  6. Cẩm nang tu Phật  (2 tập).
  7. Tạo duyên giáo hóa chúng sinh.
  8. Lòng yêu thương.
  9. Linh hồn không có (Tái bản).
  10. Mười hai cửa vào Đạo.
  11. Hành thập thiện & Tứ vô lượng tâm.
  12. Những lời tâm huyết (những tập hiện Tu viện đã xuất bản).
  13. Định niệm hơi thở.
  14. Sống một mình như con Tê Ngưu.
  15. Pháp môn niệm Phật tứ bất hoại tịnh.
  16. Muốn chứng đạo phải tu pháp môn nào?
  17. Phật giáo có đường lối riêng biệt.
  18. Thời khóa tu tập trong thời Đức Phật.
  19. Giới đức làm người.
  20. Nghi thức thọ trai.

Ngoài ra nếu có thêm đĩa ngoài những đĩa mà con đã nhận được ở trên thì xin gửi cho con xin luôn ạ! Con xin cảm tạ!

Phật tử Đoàn Xuân Bảo, pháp danh Thiện Hòa.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Sau khi Thành Đạo

Đức Phật và Phật Pháp(The Buddha and His Teachings)Hòa thượng Narada, 1980Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998


Sau khi Thành Đạo

"Trên thế gian, không luyến ái là hạnh phúc" -- Udana
---o0o---
Trong buổi sáng, ngay trước ngày Thành Đạo, lúc Bồ Tát ngồi dưới gốc cây cổ thụ Ajapala gần cội Bồ Đề, thì có một bà giàu lòng quảng đại tên Sujata thình lình dâng đến Ngài một vật thực bằng gạo với sữa mà bà đã công khó tự tay tỉ mỉ làm lấy. Sau khi thọ xong bữa ăn có nhiều chất dinh dưỡng ấy, Đức Phật nhịn đói luôn suốt bảy tuần nhật. Ngài trải qua thời gian bốn mươi chín ngày yên lặng để suy niệm, quanh quẩn dưới gốc cây Bồ Đề.
Tuần Lễ Đầu Tiên
Suốt thời gian bảy ngày đầu tiên sau khi Thành Đạo Đức Phật ngồi không lay động dưới tàng cây Bồ Đề [1] để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát (Vimutti Sukha). Trong đêm cuối tuần, Ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên (Paticca Samuppada) [2] theo chiều xuôi như sau: "Khi có cái này (nguyên nhân), thì cái này (hậu quả) có. Với sự phát sanh của cái này (nhân), cái này (quả) phát sanh".
- Tùy thuộc nơi Vô Minh (avijja), Hành (samkhara), thiện và bất thiện, phát sanh
- Tùy thuộc nơi Hành, Thức (vinnana) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Thức, Danh-Sắc (nama-rupa) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Danh-Sắc, Lục Căn (salayatana) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Lục Căn, Xúc (phassa) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Xúc, Thọ (vedana) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Thọ, Ái (tanha) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Ái, Thủ (upadana) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Thủ, Hữu (bhava) phát sanh.
- Tùy thuộc nơi Hữu có Sanh (jati).
- Tùy thuộc nơi Sanh, phát sanh Bệnh (jara), Tử (marana), Sầu Não (soka), Ta Thán (parideva), Đau Khổ (dukkha), Buồn Phiền (domanassa) và Thất Vọng (upayasa).
Toàn thể khối đau khổ phát sanh như thế ấy.
Lúc bấy giờ đã thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau:
"Quả thật vậy, khi các Chân Lý phát hiện hiển nhiên đến bậc thánh nhân (Brahmana) [3] đã kiên trì cố gắng và suy niệm thâm sâu, bao nhiêu hoài nghi đều tan biến vì vị này đã thấu triệt chân lý cùng với các nguyên nhân".
Khoảng canh giữa trong đêm, Đức Phật suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều ngược như sau: "Khi nguyên nhân này không còn thì hậu quả này cũng không còn. Với sự chấm dứt của nhân này, quả này cũng chấm dứt".
- Với sự chấm dứt của Vô Minh, Hành chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Hành, Thức chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Thức, Danh-Sắc chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Danh-Sắc, Lục Căn chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Lục Căn, Xúc chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Xúc, Thọ chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Thọ, Ái chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Ái, Thủ chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Thủ, Hữu chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Hữu, Sanh chấm dứt.
- Với sự chấm dứt của Sanh, Bệnh, Tử, Sầu Não, Ta Thán, Đau Khổ, Buồn Phiền và Thất Vọng chấm dứt.
Như thế ấy, toàn thể khối đau khổ chấm dứt.
Lúc bấy giờ đã thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau:
"Quả thật vậy, khi các Chân Lý phát hiện hiển nhiên đến bậc thánh nhân (Brahmana) đã kiên trì cố gắng và suy niệm thâm sâu, bao nhiêu hoài nghi đều tan biến vì vị này đã thấu triệt sự tận diệt các nguyên nhân".
Đến canh ba, Đức Thế Tôn suy niệm về pháp "Tùy Thuộc Phát Sanh" theo chiều xuôi và chiều ngược như sau: "Khi nhân này có, thì quả này có. Với sự phát sanh của nhân này, quả này phát sanh. khi nhân này không có thì quả này không có. Với sự chấm dứt này, quả này chấm dứt."
- Tùy thuộc nơi Vô Minh, Hành phát sanh v.v...
Như thế ấy, toàn thể khối đau khổ phát sanh.
- Với sự chấm dứt của Vô Minh, Hành chấm dứt v.v...
Như thế ấy, toàn thể khối đau khổ chấm dứt.
Lúc bấy giờ đã thấu hiểu ý nghĩa của điều này, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau:
"Quả thật vậy, khi các Chân Lý phát hiện hiển nhiên đến bậc thánh nhân (Brahmana) đã kiên trì cố gắng và suy niệm thâm sâu, thì Ngài vững vàng phá tan vây cánh cửa của Ma Vương cũng như ánh sáng thái dương phá tan đêm tối và rọi sáng bầu trời".
Tuần Thứ Nhì
Tuần lễ thứ nhì trải qua một cách bình thản, nhưng trong sự yên lặng ấy Đức Phật đã ban truyền cho thế gian một bài học luân lý quan trọng. Để tỏ lòng tri ân sâu xa đối với cây Bồ Đề vô tri vô giác đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu để thanh đạt Đạo Quả, Ngài đứng cách một khoảng xa để chăm chú nhìn cây Bồ Đề trọn một tuần không nháy mắt. [4]
Noi theo gương lành cao quý và để kỷ niệm sự thành công vẻ vang, hàng tín đồ của Đức Phật đến ngày nay vẫn còn tôn kính, chẳng những chính cây ấy mà đến các cây con, cháu của cây ấy. [5]
Tuần Thứ Ba
Vì Đức Phật không rời nơi trú ngụ mà vẫn còn quanh quẩn ở cội Bồ Đề nên chư Thiên lúc bấy giờ còn nghi ngờ, không biết Ngài đã đắc Quả Phật chưa. Đức Phật đọc được tư tưởng ấy, dùng oai lực thần thông tạo một "đường kinh hành quý báu" (ratana camkamana) và đi lên đi xuống thiền hành suốt trọn tuần.
Tuần Thứ Tư
Trong tuần lễ thứ tư, Đức Phật ngự trong "bảo cung" (ratanaghara, cái phòng bằng ngọc, trong ý nghĩa "cái phòng quý báu") để suy niệm về những điểm phức tạp của Vi Diệu Pháp (Abhidhamma, giáo lý cao siêu) [6]. Kinh sách ghi nhận rằng khi Ngài suy tưởng về lý Nhân Quả Tương Quan (Patthana), bộ khái luận thứ bảy của Tạng Vi Diệu Pháp, tâm và thân Ngài trở nên hoàn toàn tinh khiết và do đó phát tủa ra một vầng hào quang sáu màu [7].
Tuần Thứ Năm
Trong tuần thứ năm, Đức Phật ngồi dưới cội Ajapala trứ danh, chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát (vimutti sukha). Vào cuối tuần, khi Ngài xuất ra khỏi trạng thái siêu thế ấy có một vị Bà-la-môn ngã mạn (huhumka jakita) đến gần chào hỏi theo lễ nghi rồi nói: "Này Tôn Giả Gotama (Cồ Đàm), đứng về phương diện nào ta trở thành một thánh nhân (Brahmana) và những điều kiện nào làm cho ta trở thành thánh nhân?"
Để trả lời, Đức Phật đọc lên bài kệ:
"Người kia đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, không còn ngã mạn (huhumka), đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu thúc lục căn, thông suốt các pháp học và đã chân chánh sống đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là thánh nhân (Brahmana). Đối với người ấy không còn có sự bồng bột, dầu ở nơi nào trên thế gian." [8]
Theo bản Chú giải Túc Sanh Truyện, cũng trong tuần lễ này, ba người con gái của Ma Vương - Tanha, Arati và Raga [9] - cố gắng lấy nhan sắc quyến rũ Đức Phật, nhưng thất bại.
Tuần Thứ Sáu
Từ cây Ajapala Đức Phật sang qua cây Mucalinda và ngự tại đây một tuần lễ để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến. Trời sẫm tối dưới lớp mây đen nghịt và gió lạnh thổi suốt nhiều ngày.
Vào lúc ấy Mucalinda, mãng xà vương, từ ổ chun ra, uốn mình quấn xung quanh Đức Phật bảy vòng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật. Đến cuối ngày thứ bảy, thấy trời quang mây tạnh trở lại, Mucalinda tháo mình trở ra và bỏ hình rắn, hiện thành một thanh niên, chấp tay đứng trước mặt Đức Phật. Đức Phật đọc bài kệ như sau:
"Đối với hạng người tri túc, đối với người đã nghe và đã thấy chân lý thì sống ẩn dật là hạnh phúc. Trên thế gian, người có tâm lành, có thiện chí, người biết tự kiềm chế, thu thúc lục căn đối với tất cả chúng sanh là hạnh phúc. Không luyến người ái, vượt lên khỏi dục vọng là hạnh phúc. Phá tan được thành kiến 'ngã chấp' quả thật là hạnh phúc tối thượng."
Tuần Thứ Bảy
Vào tuần thứ bảy, Đức Phật bước sang cội cây Rajayatana và ở đó chứng nghiệm Quả Phúc Giải Thoát.
Một Trong Những Phật Ngôn Đầu Tiên
"Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đi tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều gãy,
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục"
. [10]
Vừa lúc bình minh, vào ngày Ngài chứng đắc Quả Vô Thượng, Đức Phật đọc lên bài kệ hoan hỷ này, mô tả sự chiến thắng tinh thần vô cùng vẻ vang rực rỡ.
Đức Phật nhìn nhận cuộc đi thênh thang bất định trong nhiều kiếp sống quá khứ đầy khổ đau phiền lụy.
Đây cũng là sự kiện hiển nhiên, chứng minh niềm tin nơi thuyết tái sanh.
Ngài phải đi bất định và do đó phải chịu khổ đau, bởi vì chưa tìm ra người đã xây dựng cái nhà, tức cơ thể vật chất này.
Trong kiếp sống cuối cùng, giữa khung cảnh cô đơn tịch mịch của rừng thiêng, lúc đi sâu vào công trình hành thiền mà Ngài đã dày công trau dồi từ xa xôi trong quá khứ, trải qua cuộc hành trình bất định, Ngài khám phá ra anh thợ cất nhà hàng mong mỏi muốn biết.
Anh thợ này không ở đâu ngoài, mà ẩn tàng sâu kín bên trong Ngài. Đó là ái dục, sự tự tạo, một thành phần tinh thần luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất cả mọi người. Ái dục xuất phát bằng cách nào thì không thể biết.
Cái gì ta tạo ra ắt ta có thể tiêu diệt. Vị kiến trúc sư đã tìm ra anh thợ cất nhà, tức đã tận diệt ái dục, khi đắc Quả A La Hán, mà ý nghĩa được bao hàm trong những danh từ "chấm dứt ái dục".
Cái sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm (kilesas) như tham (lobha), sân (dosa), si (moha), ngã mạn (mana), tà kiến (ditthi), hoài nghi (vicikiccha), dã dượi (thina), phóng dật (uddhacca), không hổ thẹn tội lỗi, những hành động bất thiện (ahirika), không ghê sợ hậu quả của hành động bất thiện (anottappa).
Cây đòn dong chịu đựng cái sườn nhà là vô minh, căn nguyên xuất phát mọi dục vọng.
Phá vỡ được cây đòn dong vô minh bằng trí tuệ là đã làm sập được căn nhà.
Sườn và đòn dong là vật liệu mà anh thợ dùng để xây cất cái nhà không đáng cho ta ham muốn. Nếu hết vật liệu, tức nhiên anh thợ không còn cất nhà được nữa.
Khi nhà đã bị phá vỡ tan tành thì cái tâm mà trong câu chuyện không được đề cập đến, đã đạt đến trạng thái vô vi, Vô Sanh Bất Diệt, Niết Bàn.
Tất cả những gì còn tại thế đều phải bị bỏ lại phía sau và chỉ còn có trạng thái siêu thế, Niết Bàn.

Chú thích:
[1] Bồ Đề là cội cây trứ danh thuộc loại Pipal, tại Buddha Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng), miền Bắc xứ Ấn Độ, đã che mưa đỡ nắng cho Đức Phật trong khi Ngài chiến đấu để thành đạt Đạo Quả.
[2] Xem Chương 25.
[3] Brahmin là một danh từ có nghĩa "người có học kinh Phệ Đà", hàm ý người tu sĩ Bà La Môn. Đôi khi Đức Phật dùng danh từ này với nghĩa "người đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi", một thánh nhân. Trong sách này, danh từ "Brahmana" được dùng để chỉ một thánh nhân, và danh từ "Brahmin" có nghĩa là một người thuộc giai cấp Bà La Môn.
[4] Về sau, chính nơi Đức Phật đứng trọn một tuần lễ để nhìn cây Bồ Đề, vua Asoka (A Dục) có dựng lên một bảo tháp kỷ niệm gọi là Animisalocana Cetiya, đến nay vẫn còn.
[5] Một nhánh, chiết từ phiá tay mặt của cây Bồ Đề nguyên thủy này được Ni sư Sanghamitta Theri đem từ Ấn Độ sang Tích Lan (Sri Lanka) và Vua Devanampiyatissa trồng tại Anuradhapura, cố đô xứ Tích Lan. Cây này vẫn còn sum suê tươi tốt.
[6] Vì lẽ ấy, nơi này được gọi là Ratanaghara, bảo cung.
[7] Sáu màu là: xanh dương (nila), vàng (pita), đỏ (lohita), trắng (odata), cam (manjettha) và thứ sáu là năm màu pha lẫn (pabhassara).
[8] Udana, trang 1.
[9] ba người này không thể là ba dục vọng vì việc này xảy ra sau khi Đức Phật đã Đắc Quả, nghĩa là đã tận diệt mọi dục vọng.
[10] Bài kệ hoan hỷ trứ danh này chỉ thấy trong Dhammapada (Kinh Pháp Cú), câu 153-154.
--- o0o ---
Nguồn: http://www.quangduc.com/DucPhat/01ducphat4.html

Đạo Quả Phật


Đức Phật và Phật Pháp
(The Buddha and His Teachings)Hòa thượng Narada, 1980Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998

Đạo Quả Phật

"Các Đấng Như Lai chỉ là những vị thầy"-- Kinh Pháp Cú


Đặc Điểm Của Đức Phật
Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài sáu năm đăng đẳng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài và không được sự hướng dẫn của một năng lực siêu phàm nào, đơn độc một mình và chỉ nương nhờ nơi nỗ lực của chính mình, Đạo Sĩ Gotama (Cồ Đàm), lúc ấy ba mươi lăm tuổi, tận diệt mọi ô nhiễm, chấm dứt mọi tiến trình tham ái và chứng ngộ thực tướng của vạn pháp, đã trở thành một vị Phật (Buddha), Đấng Chánh Biến Tri, bậc Toàn Giác. Kể từ ngày ấy, Ngài là Đức Phật Cồ Đàm (Buddha Gotama) [1], một trong chuỗi dài những vị Phật đã xuất hiện trong quá khứ và sẽ xuất hiện trong tương lai.
Không phải khi sanh ra Ngài đã là Phật, mà Ngài trở thành Phật do sự nỗ lực của mình.
Phạn ngữ Buddha (Phật) xuất nguyên từ căn "Budh", là hiểu biết hay thức tỉnh. Gọi là Buddha (Phật) vì Ngài hiểu biết đầy đủ Bốn Chân Lý Thâm Diệu Cao Quý (Tứ Diệu Đế), và từ giấc mơ vô minh Ngài đã thức tỉnh. Chẳng những hoàn toàn thấu triệt, mà Ngài còn có đủ khả năng truyền bá giáo lý nên cũng gọi là Samma Sambuddha (Chánh Biến Tri, âm là Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề) để phân biệt với chư Phật Pacceka (Độc Giác, cá nhân, đơn độc) chỉ thấu triệt giáo lý mà không thể rọi sáng cho kẻ khác, tự giác nhưng không thể giác tha.
Trước khi thành đạt Đạo Quả Phật, Ngài được gọi là Bồ Tát (Bodhisatta) [2], có nghĩa là người có nguyện vọng trở thành Phật.
Người muốn đắc Quả Phật phải trải qua thời kỳ Bồ Tát, một thời kỳ tích cực trau giồi và phát triển những phẩm hạnh: bố thí, trì giới, từ khước (xuất gia), trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, tâm từ và tâm xả.
Trong một thời kỳ chỉ có một đấng Chánh Biến Tri. Cũng như có những loại cây, trọn đời chỉ trổ ra một bông, một hệ thống thế gian (lokadhatu) chỉ có một đấng Chánh Biến Tri.
Đức Phật là chúng sanh duy nhất, là nhân vật hy hữu, chỉ thật lâu mới có thể xuất hiện trên thế gian, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại. Tôn vinh Ngài là "Acchariya manussa" vì Ngài là một con người kỳ diệu lạ thường. Tôn vinh Ngài là "Amatassa data" vì Ngài đã ban bố tình trạng Bất Diệt. Tôn vinh Ngài là "Varado" vì Ngài là người đã ban bố tình thương tinh khiết nhất, trí tuệ thâm sâu nhất và chân lý cao siêu nhất. Cũng tôn vinh Ngài là "Dhammassami" vì Ngài là Pháp Vương, Chúa của Giáo Pháp (Dhamma).
Như Đức Phật dạy, Ngài là:
"Đấng Như Lai (Tathagata), bậc Ứng Cúng (Araham), đấng Chánh Biến Tri (Samma Sambuddha), người đã sanh ra con đường vô sanh, đã sáng tạo con đường chưa được sáng tạo, đã công bố con đường chưa được công bố, người đã hiểu biết con đường, người đã mục kích con đường, người đã nhận thức con đường" [3].
Không có vị thầy nào dạy Đức Phật phương pháp tu học để chứng Đạo Quả Chánh Đẳng Chánh Giác, "Na me acariyo atthi" [4], "một đạo sư, ta không có", là chính lời của Đức Phật. Ngài có học với những vị thầy để hiểu biết thế gian pháp [5] nhưng để đến tầng siêu thế thì không. Chính Ngài tự lực thành đạt trí tuệ trực giác.
Nếu Đức Phật đã nhờ một vị thầy hay một hệ thống tín ngưỡng nào như Ấn Độ Giáo chẳng hạn -- tôn giáo mà Ngài đã trưởng thành trong ấy -- để phát triển trí tuệ siêu phàm, thì ắt Ngài không thể tự gọi là "đạo sư vô song" (aham sattha anuttaro) [6]. Trong bài Pháp đầu tiên, Ngài tuyên bố rằng ánh sáng đã rọi rõ cho Ngài trong những việc chưa từng được nghe.
Trong những ngày đầu tiên sau khi xuất gia tầm đạo, Ngài cố tìm đến sự hướng dẫn của những vị thầy lỗi lạc nhất thời bấy giờ, nhưng trong giáo huấn của các vị thầy này không tìm thấy được điều mong mỏi. Tình thế bắt buộc Ngài phải tự mình suy niệm và quay trở vào bên trong để tìm Chân Lý. Và Ngài đã tìm ra Chân Lý bên trong Ngài. Ngài theo dõi đến tận mức thâm sâu nhất của dòng tư tưởng, và chứng ngộ Chân Lý cùng tột, chưa bao giờ từng được nghe và chưa từng được biết. Tuệ giác phát sanh từ bên trong và rọi sáng những sự vật mà trước kia Ngài chưa từng nghe thấy.
Vì Ngài đã thấu triệt tất cả những gì cần được biết và đã nắm được cái chìa khóa mở cửa vào mọi kiến thức, nên tôn Ngài là Sabbannu, bậc Toàn Giác. Đó là trí tuệ siêu phàm mà Ngài đã dày công trau giồi, trải qua vô lượng tiền kiếp.
Phật Là Ai?
Ngày nọ có người theo đạo Bà La Môn tên Dona, nhân khi thấy dấu chân của Đức Phật in dưới cát có những đặc điểm lạ thường, đến gần Ngài và hỏi:
- Phải chăng Ngài là một vị Trời (Deva)?
- Không, quả thật tôi không phải là một vị Trời.
- Vậy phải chăng Ngài là một nhạc công trong cảnh Trời (Gandhabba)?
- Không, tôi không phải là một nhạc công trong cảnh Trời.
- Vậy Ngài là quỷ Yakka chăng?
- Không, quả thật tôi cũng không phải là quỷ Yakka.
- Như thế chắc Ngài là người?
- Không, quả thật tôi cũng không phải là người.
- Vậy, xin cho biết Ngài là ai?
Đức Phật trả lời rằng Ngài đã tận diệt những pháp trầm luân (hoặc lậu), vốn tạo điều kiện để tái sanh vào những cảnh Trời, Gandhabba, Yakka hay cảnh người, và thêm:
"Như hoa sen, đẹp đẽ và dễ mến,
Không ô nhiễm bùn dơ nước đục,
Giữa đám bụi trần, ta không vướng chút bợn nhơ.
Như vậy, Ta là Phật." 
[7]
Đức Phật không hề tự xưng là hiện thân (avatara) của thần Vishnu, một Thần Linh Ấn Độ Giáo mà kinh Bhagavadgita đã ca ngợi một cách huyền diệu, sanh ra để bảo vệ sự chân chánh, tiêu diệt tội lỗi và để thiết lập và củng cố đạo lý (Dharma).
Theo lời dạy của Đức Phật thì có hằng hà sa số chư Thiên (Deva, cũng gọi là những vị Trời) -- cũng là hạng chúng sanh, còn phải chịu sanh tử luân hồi -- nhưng không có một Thần Linh Tối Thượng, với quyền lực siêu thế, kiểm soát vận mạng con người, xuất hiện trên thế gian từng lúc, dùng hình thức người làm phương tiện. [8]
Đức Phật cũng không bao giờ tự gọi là "Đấng Cứu Thế" có quyền năng cứu vớt kẻ khác bằng chính sự cứu rỗi của mình. Ngài thiết tha kêu gọi những ai hoan hỷ bước theo dấu chân Ngài không nên ỷ lại nơi người khác mà phải tự mình giải thoát lấy mình, bởi vì cả hai trong sạch và bợn nhơ, cũng đều tùy thuộc nơi chính mình. Ta không thể trực tiếp làm cho ai trong sạch hay ô nhiễm. [9]
Để minh định rõ ràng mối tương quan của Ngài đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự mình nhận lãnh trọn vẹn trách nhiệm và tự mình nỗ lực kiên trì, Đức Phật minh bạch dạy rằng:
"Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư." [10]
Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của vòng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp cùng không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.
"Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực. Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi mình để tự giải thoát, quả thật là tích cực."
Tùy thuộc nơi người khác là đem tất cả cố gắng của chúng ta ra quy hàng.
"Hãy tự xem con là hải đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác!" [11]
Các lời lẽ có rất nhiều ý nghĩa kia mà Đức Phật đã dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. Tìm sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lý, quả thật là thiển bạc và vô ích.
Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người phi thường, một bậc siêu nhân, do những cá tính đặc biệt duy nhất của Ngài. Đức Phật đã ân cần nhắc nhở nhiều lần như vậy và không có điểm nào trong đời sống hoặc trong lời dạy của Ngài để chúng ta lầm hiểu rằng Ngài là một nhân vật vô sanh bất diệt. Có lời phê bình rằng lịch sử nhân loại, không hề có vị giáo chủ nào "phi thần linh hơn Đức Phật, tuy nhiên, cũng không có vị nào có đặc tánh thần linh hơn Đức Phật" [12]
Trong thời Ngài còn tại thế, Đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.
Tánh Cách Vĩ Đại Của Đức Phật
Sanh ra là một người, sống như một người, Đức Phật thành đạt trạng thái tối thượng của sự toàn thiện, Đạo Quả Phật, do sức kiên trì nỗ lực cá nhân. Nhưng Ngài không dành giữ sự liễu ngộ siêu phàm cho riêng mình mà công bố trước thế gian rằng tâm có khả năng và oai lực bất khuất. Không khi nào tự hào rằng chỉ có Ngài là người duy nhất đắc Quả Phật, vì Đạo Quả Phật không phải là ân huệ đặc biệt dành riêng cho một cá nhân tốt phước nào đã được chọn trước.
Thay vì đặt trên con người một thần linh vạn năng vô hình và cho con người một địa vị khép nép rụt rè, Đức Phật chứng minh rằng con người có thể thành đạt trí tuệ cao siêu và Đạo Quả tối thượng do sự cố gắng của chính mình. Và như vậy, Đức Phật nâng cao phẩm giá con người. Ngài dạy rằng muốn thoát ra khỏi vòng trầm luân phiền não, chính ta phải tự mình gia công cố gắng chớ không phải phục tùng, tùy thuộc nơi một thần linh, hay một nhân vật nào làm trung gian giữa ta và vị thần linh ấy.
Trong thế gian ngã chấp, lấy mình làm trung tâm của vũ trụ và chạy theo quyền thế, Đức Phật dạy chúng ta lý tưởng cao quý của sự phục vụ bất cầu lợi. Ngài chống đối tệ đoan phân chia giai cấp trong xã hội -- chỉ làm trở ngại mức độ tiến hoá của loài người -- và luôn luôn bênh vực công lý, khuyên dạy bình đẳng giữa người và người. Ngài tuyên bố rằng cánh cửa đưa vào sự thành công và thạnh vượng phải rộng mở cho tất cả mọi người, ai cũng như ai, dầu cao thấp, sang hèn, đạo đức hay tội lỗi, nếu người ấy cố công cải thiện nếp sống, hướng về con đường trong sạch. Ngài nâng đỡ hoàn cảnh của người phụ nữ, lúc bấy giờ bị xã hội khinh thường, không những bằng cách nâng phẩm giá của người đàn bà lên đúng tầm quan trọng, mà còn sáng lập giáo hội đầu tiên trong lịch sử cho hàng phụ nữ. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, Ngài đứng lên cố gắng đánh đổ chế độ mua bán người làm nô lệ. Ngài bãi bỏ phong tục đem những con vật xấu số ra giết để cúng tế thần linh và nới rộng tâm Từ, bao trùm luôn cả loài thú.
Không bao giờ Đức Phật cưỡng bách tín đồ phải làm nô lệ cho giáo lý của mình hay cho chính mình. Những ai bước theo dấu chân Ngài đều được tự do tư tưởng. Ngài khuyên dạy hàng môn đệ không nên nhắm mắt chấp nhận những lời của Ngài chỉ vì kính nể, tôn trọng, nhưng phải xem xét, nghiên cứu, suy niệm cẩn thận cũng như người trí tuệ muốn thử vàng, phải "đốt, cắt và chà vào đá".
Đức Phật nâng đỡ những bà mẹ bạc phước như Patacara và Kisagotami bằng những lời khuyên lơn an ủi. Ngài tự tay chăm sóc những người bệnh hoạn cô đơn như Putigatta Tissa Thera. Ngài giúp đỡ người nghèo đói và bị bỏ rơi, không noi nương tựa như Rajjumala và Sopaka và giải cứu những vị này khỏi phải chết oan thê thảm. Đức Phật nâng cao đời sống đạo đức của hạng người tội lỗi sát nhân như Angulimala và hạng gái giang hồ hư hỏng như Ambapali. Ngài khuyến khích kẻ yếu, đoàn kết người chia rẽ, đem ánh sáng đến cho người vô minh tăm tối, dắt dẫn kẻ mê muội lầm đường, nâng đỡ người thấp kém và tăng cao phẩm giá người cao quý. Người nghèo, người giàu, người lương thiện và người tội lỗi, tất cả đều quý mến Ngài như nhau. Những bậc vua chúa tàn bạo độc tài và những vì minh quân chánh trực, những hoàng tử vinh quang hiển hách và những người sống cuộc đời tối tăm, không ai biết đến, những nhà triệu phú giàu lòng quảng đại, những vị keo kiết bỏn xẻn, những học giả khiêm tốn và những người kiêu căng tự đắc, hạng gái giang hồ, hạng người làm nghề bẩn thỉu, hạng sát nhân, hạng người thường bị khinh bỉ, tất cả đều có hưởng những lời khuyên dạy đầy trí tuệ và từ bi của Đức Phật. Gương lành cao quý của Ngài là nguồn gợi cảm, là niềm khích lệ cho tất cả. Ngài là vị đạo sư giàu lòng bi mẩn và rộng lượng khoan hồng hơn tất cả.
Ý chí sắt đá, trí tuệ cao siêu, lòng bi mẫn vô biên, đức vị tha phục vụ, sự thoát ly chưa từng có, đời sống gương mẫu, những phương pháp toàn thiện mà Ngài đã áp dụng để truyền bá giáo lý, và sự thành công tối hậu của Ngài -- tất cả những yếu tố ấy đã khiến một phần năm nhân loại tôn thờ Ngài là vị giáo chủ siêu việt nhất tự cổ chí kim.
Để tỏ lòng kính thâm sâu của mình đối với Đức Phật, Sri Radhakrishnan viết:
"Nơi Đức Phật Gotama (Cồ Đàm) ta nhận thấy một tinh hoa toàn thiện của người phương Đông. Ảnh hưởng của Ngài trong tư tưởng và đời sống nhân loại là một kỳ công hy hữu, cho đến nay không thua kém ảnh hưởng của bất cứ vị giáo chủ nào trong lịch sử. Mọi người đều sùng kính, tôn Ngài là người đã dựng nên một hệ thống tôn giáo vô cùng cao thâm huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí bởi vì, đứng về phương diện trí thức, chắc chắn Ngài là một trong những bậc vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử". [13]
Trong quyển "Three Greatest Men in History", nhà học giả H. G. Wells ghi nhận như sau:
"Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là một con người giản dị có tâm đạo nhiệt thành, một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống, một con người như mọi người chớ không phải một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyền thuyết hoang đường. Ngài cũng ban bố cho nhân loại lời kêu gọi có tính cách phổ thông. Bao nhiêu quan niệm của thế hệ tân thời đều tương hợp với giáo lý ấy. Đức Phật dạy rằng tất cả những gian lao sầu khổ và bất hạnh trong đời đều do lòng ích kỷ sanh ra. Trước khi có thể trở nên vắng lặng, con người cần phải ngừng sống cho giác quan mình. Rồi từ đó, vượt lên trên tất cả mọi người, Ngài sống cuộc đời siêu nhiên. Năm trăm năm trước Chúa Christ (Ki Tô), xuyên qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, Phật Giáo đã kêu gọi con người nên tự quên mình. Đứng về một vài phương diện, giữa ta (là người Âu) và những nhu cầu của chúng ta và Phật Giáo, có nhiều quan điểm gần nhau. Đối với tầm quan trọng của con người trong sự phục vụ, Ngài tỏ ra sáng suốt hơn, và đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp nhân sinh, Ngài ít lúng túng trong biện thuyết mập mờ hơn Chúa Ki Tô."
Thi sĩ Tagore tôn Ngài là bậc Vĩ Nhân Cao Quý nhất trên thế gian.
Một triết gia người Đan Mạch, ông Fausboll, tán dương Đức Phật với những lời lẽ như sau:
"Càng hiểu biết Ngài, tôi càng quý mến Ngài".
Một tín đồ từ tốn của Đức Phật sẽ nói:
"Càng hiểu biết Ngài, tôi càng quý mến Ngài. Càng quý mến Ngài, tôi càng hiểu biết Ngài".

Chú thích:
[1] Hàng tín đồ gọi Ngài là Đức Phật (Buddha), Đức Thế Tôn (Bhagava), Đức Thiện Thệ (Sugata) v.v... Những người ở đạo khác gọi Ngài là Tôn Giả Cồ Đàm (Bho Gotama), Sa Môn Cồ Đàm (Samana Gotama) v.v... Khi đề cập đến mình, Đức Phật dùng danh từ "Như Lai" (Tathagata) có nghĩa là "người đã đến như vậy", "người đã ra đi như vậy".
[2] Sanskrit: Bodhisatva. Xem Chương 40 và 41.
[3] Samyutta Nikaya, Tạp A-Hàm phần 3, trang 66; Kindred Sayings, phần 3, tr.58
[4] Majjhima Nikaya, Trung A-Hàm, Ariyapariyesana Sutta, số 26
[5] Như Kondanna, Alara Kalama, Uddaka Ramaputta v.v...
[6] Majjhima Nikaya, Trung A-Hàm, Kinh Ariyapariyesana Sutta, số 26
[7] Gradual Sayings, phần 2, tr. 44-45. Anguttara Nikaya, Tăng Nhứt A-Hàm, phần 2, tr. 37.
[8] Tuy nhiên, có những vị đạo sư Ấn Độ Giáo, để khuyến dụ người Phật tử theo tôn giáo mình, đã sai lầm gọi Đức Phật là hiện thân của một Thần Linh Ấn Độ Giáo, điều mà Đức Phật đã bác bỏ từ lúc còn tại tiền.
[9] Pháp Cú, 165: Trong sạch hay ô nhiễm đều tùy nơi ta. Khong ai làm cho người khác trong sạch được.
[10] Pháp Cú, 276
[11] Digha Nikaya - Trường A-Hàm, Mahaparinibbana Sutta - Kinh Đại Bát Niết Bàn.
[12] Dwight Goddard - Buddhist Bible, trang 20.
[13] Gautama The Buddha, trang 1.

--- o0o ---
Nguồn: http://www.quangduc.com/DucPhat/01ducphat3.html

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Thư cuối



KR, 05/09/2003.

Anh nhớ!
Vâng! Em đã nhận được thư của anh, em đã đọc rất nhiều lần để muốn biến mỗi lời lẽ trong thư của anh là một ý nghĩ của riêng mình.

Cho em được chúc anh tất cả những gì tốt đẹp, mới mẻ nhất ở nơi phương trời mới lạ ấy! Và cũng chuyển lời chúc đó tới Thụ - Long – Hiếu – Đạt … anh nhé!

Anh!... Em biết nói với anh cái gì bây giờ, bởi giờ đây quá khứ cũng đã đi rồi, và anh cũng đang ở rất xa, chỉ còn lại em với từng con đường, hàng cây, góc phố… và tất cả những gì gọi là kỷ niệm giữa chúng ta cứ giằng xé tâm hồn em mỗi khi em chạm vào chúng. Em làm sao quên được, và em cũng không thể nào quên được hình bóng một người em đã từng yêu thương tin tưởng đến độ trao gửi cả “cuộc đời” mình. Mới ngày nào thôi, hôm nay thành dỹ vãng. Số phận ư? Số phận là cái gì nếu không phải là do chúng ta tạo nên nó. Em không trách anh mà trách bản thân mình. Có thể tại em nên anh thành người có lỗi. Em chỉ là em, là một người con gái bình thường như bao người con gái khác, không làm được điều kỳ diệu như anh từng mong đợi. Tại em, vâng, cho em một ngàn lần xin lỗi anh về tất cả. Em chỉ yêu mà không biết cách làm thay đổi thế giới của người yêu mình. Cũng như em chỉ ban phát để không biết đến người ta cần thiết ở mức độ nào. Cũng như em chỉ biết phải độ lượng mà không biết cuộc sống này phải cần sự siết chặt… Em buồn lắm chứ, em suy sụp nhiều lắm chứ, nhưng anh đâu biết được điều đó nơi em. Có những lúc mở rương ra, ở trong đó là đầy ắp những kỷ niệm ở những món quà anh tặng cho em ngày nào, lại làm em suy tư trăn trở. Tư tưởng không ngừng phải đấu tranh giữa thực tại và “quá khứ”. Lần cuối cùng gặp nhau em đã nói với anh là đừng bao giờ hỏi em có hạnh phúc không anh ạ! Không phải em không muốn trả lời anh mà đó là câu hỏi khó, em không muốn phải vắt óc ra trả lời. Em rất cảm ơn sự quan tâm của anh mà từ trước đến nay lúc nào em cũng cần đến nó. Anh ơi! Em không biết nên viết những gì cho anh cả, bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu những hoài niệm của chúng ta lại trở về nhảy múa trong tâm trí em. Em đang khóc, mà em phải nín để nó không bật lên thành tiếng trong đêm khuya. Anh có tưởng tượng được tâm trạng của em lúc này không? Tại sao lúc này anh không có ở bên em? Ngày 15/08, em biết hôm ấy là ngày anh đi, em có về thị xã để cố ý sáng ra tiễn anh đi, nhưng em lại không xuống trường tiễn anh nữa, vì em nghĩ như thế sẽ tốt hơn cho cả hai chúng ta. Đừng trách em anh nhé, và hãy quên em đi, em không còn được là của anh như ngày nào nữa. Hãy chú tâm vào học tập cho được kết quả như mong muốn, con đường trước mắt anh rất tốt đẹp và đừng để mất cơ hội một lần nữa. Nếu người ta thật lòng thương anh thì hãy… và ngàn lẫn hãy tha tội cho em. Có thể em vội vàng nông cạn, nhưng một phần cũng vì không hiểu nổi hết những gì anh đang nghĩ, hay nói đúng hơn là vì tự ái cá nhân mà giờ đây chúng ta không còn có cơ hội được là của nhau nữa. Em có thể phản bội người ta, mặc dù lúc nào cũng muốn được chạy đến bên anh, sà vào lòng anh, được anh vuốt ve che chở. Muộn rồi anh à, em phải đi lấy chồng… và đó là duyên phận. Chúng mình có duyên mà không phận, nhưng em muốn chúng ta được là những người bạn tốt của nhau. Xa nhau rồi, nhưng nghe tin anh không ở KT trong năm này em vẫn cảm thấy lòng mình hụt hẫng và buồn vô hạn. Những lúc em muốn gặp anh, anh ở đâu? Có thể em sẽ không viết được thư nhiều cho anh nhưng em sẽ thường xuyên gọi điện cho anh, và nếu có thời gian nãy viết thư cho em anh nhé! Đừng lo cho em mà chăm chút đến bản thân hơn nữa nghe anh. Em không muốn đến một lúc nào đó hỏi thăm một người về anh họ bảo: Anh dạo này gầy lắm! Nhiều lúc em tự hỏi mình rằng ở nơi xa xôi ấy anh sẽ sống như thế nào? Anh có biết em lo cho anh không? Hãy cố gắng anh nhé, và vượt lên tất cả.

Em vẫn thế, sức khỏe và công việc. Em gầy hả? Có lẽ là thế, vì cuộc sống thường không đơn giản như ta từng mong đợi. Năm nay em dạy Địa lớp 8 – GDCD lớp 7 và 9. Tình yêu mới ư? Nói chung mọi sự vật hiện tượng cho đến các mối quan hệ của đời thường đều tồn tại hai mặt. Em không so sánh với những gì trước đó và cũng không tự mãn với tương lai. Giá như giờ anh có ở đây em sẽ được nói với anh tất cả thực tại của em. Nhưng thôi em sẽ đợi một ngày nào đó anh về KT. Người ấy của em cũng không làm cho em buồn nhiều – mà người lại. Anh ấy rất tốt với em – anh cũng đừng lo nghĩ gì nhiều nữa nghe anh.

Em muốn nói với anh thật nhiều mà khi cầm bút lại chẳng nói được gì cả, và có lẽ em hôn anh và tạm biệt anh ở chỗ này, chúng ta sẽ nói với nhau nhiều hơn ở lần sau. Em buồn quá và mong anh sớm về lại KT.
See you a letter.
Cố nhân.

Em yêu anh.
Em nhớ và mong anh.
Nhưng em phải làm gì đây trước thực tại và quá khứ?

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Trăn trở về lương tâm người thầy qua cái chết của học sinh (phần 2)


Trăn trở về lương tâm người thầy qua cái chết của học sinh (phần 2):

Những điểm tựa cần thiết cho học sinh

(Dân trí) - Đừng vội quy kết cho cái chết của em Dương là vì bệnh trầm cảm, vì như vậy sẽ là thiếu khách quan và chưa xác đáng. Vấn đề ở đây là cần phải xem xét những điểm tựa cần thiết, nâng đỡ tinh thần cho học sinh ra sao.
 >>  Vụ học sinh lớp 10 tự tử: Thầy giáo xin tạm nghỉ việc
 >>  Vì đâu một học sinh lớp 10 tự tử?
 >> Nghệ thuật dạy dỗ của người thầy

Áp lực tâm lý
 
Có thể trong khoảng thời gian gần đây em Dương đang phải trải qua những khó khăn khác về mặt tinh thần.

Em Dương là học sinh giỏi suốt quá trình học tiểu học và THCS, sau này vì nguyên nhân nào đó khiến kết quả học tập của em giảm sút, chính điều đó đã là một áp lực tâm lý quá năng nề đối với em.
 
Có thể em đã rất mặc cảm về bản thân, cảm thấy hổ thẹn với bạn bè và có lỗi với bố mẹ nên khi thầy giáo Mĩ có những lời nói, thái độ và hành động thiếu quan tâm hiểu biết tâm lý, thiếu tôn trọng học trò như vậy thì chẳng khác nào đẩy bi kịch trong em đến cùng cực. Vì vậy chỉ trong một thời gian rất ngắn sau đó em Dương đã tự tử.

Đừng vội quy kết cho cái chết của em Dương là vì bệnh trầm cảm, vì như vậy sẽ là thiếu khách quan và chưa xác đáng. Thực tế gia đình em Dương đã phủ nhận lời của ông Giám đốc Sở Giáo dục đào tạo nói rằng em Dương có biểu hiện của bệnh trầm cảm từ tháng 11 năm ngoái.
 
Nhưng giả sử điều đó là một thực tế đi nữa thì cũng chưa có bất kỳ một kết luận khoa học nào của các nhà chuyên môn.

Hơn nữa nếu em Dương thật sự bị trầm cảm thì chính thái độ cư xử, hành động và lời nói của thầy Mĩ có thể là tác nhân đẩy sự bi quan tiêu cực của em lên đến tột cùng, làm cho “căn bệnh” của em đến thời khắc bùng vỡ, đưa em đến bờ vực tuyệt vọng và đi đến quyết định quyên sinh.
 

Thư tuyệt mệnh của học sinh Dương (Ảnh: D.P)

Có giả thiết nói rằng em Dương có thể bị tác động từ phim ảnh, văn hóa hay phong trào tự tử của học sinh, diễn viên nước ngoài. Trong trường hợp của em Dương thì giả thiết này, theo tôi, cũng không thuyết phục.

Qua bức thư tuyệt mệnh của em Dương viết cho em trai mình có đoạn: “...Hãy sống hòa đồng với bạn bè, trân trọng từng phút giây sống trong hạnh phúc của mình”. Điều đó nói lên rằng em đã rất ý thức được giá trị cuộc sống đáng quý như thế nào. Luật sư Trịnh Khắc Triệu (ở Hải Phòng) nói: “Khi đọc những bức thư tuyệt mệnh cháu Dương để lại tôi nhận thấy Dương là một học sinh thông minh, rất tình cảm”.
 
Câu hỏi với nhiều phía

Chúng ta cứ mãi xoay quanh vấn đề thầy Mĩ có lỗi hay không có lỗi mà quên đi một điều quan trọng hơn đó là lương tâm người thầy và trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội đối với con em chúng ta. Có phải những người có liên quan đến cái chết của em Dương vì thiếu quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý của các em, đến khi sự việc không hay xảy ra, các chuyên gia nhảy mới vào phân tích và mới giật mình nhận ra được một số vấn đề?

Phải thừa nhận hành động của em Dương là nông nổi, nhưng chúng ta phải làm gì để ngăn cản những hành động đó mới là điều quan trọng hơn, cần làm hơn.

Xét về mặt lý, có thể những hành động và lời nói của thầy Mĩ chưa đến mức phạm lỗi. Nhưng xét về mặt lương tâm và trách nhiệm của một người giáo viên thì không thể nói là hoàn toàn không có lỗi như lời của ông Hùng - Giám đốc Sở GD&ĐT Thành phố Hải Phòng cùng một số bạn đọc khác.

Lỗi của thầy là sự chủ quan, thiếu quan sát và quan tâm đến diễn biến tâm lý học sinh. Điều này có thể chứng minh được vì theo như gia đình phản ánh thì ngay cả khi gọi điện về báo cho gia đình là em Dương nghỉ học không xin phép, thầy còn nói “nó cứ điên điên, khùng khùng”.

Đặt trường hợp làm cha mẹ bạn sẽ nghĩ như thế nào khi đứa con ngoan của mình được giáo viên phản ánh với những từ ngữ như vậy?

Tôi đã đặt ra nhiều câu hỏi cho ông giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo thành phố Hải Phòng, về lời khẳng định em Dương bị trầm cảm và sau đó là sự giải thích mập mờ cho rằng phóng viên không hiểu ý nên trình bày chưa đúng ý của ông.

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn
Câu hỏi về tính nghiêm minh của một vị giám đốc và toàn ngành giáo dục: Phải chăng ông Hùng cố tình bao che cho thầy Mĩ? Phải chăng ông sợ ảnh hưởng đến phong trào thi đua của ngành? Phải chăng vì một mặt nào đó ông cũng chưa đủ hiểu biết trong vấn đề này mà kết luận một cách vội vàng?

Việc em Dương không chia sẻ câu chuyện ở trường với bố mẹ cũng đặt ra những câu hỏi cho phía gia đình về sự quan tâm tới con cái.

Đa số phản ứng về hành động quyên sinh của em Dương mới chỉ dừng lại ở mức độ biểu hiện bên ngoài với những lời chê trách, mà chưa đi tìm hiểu sâu sắc hơn căn nguyên của hành động đó, dẫn đến nhìn nhận sự việc thiếu khách quan, thiếu sâu sát.

Khi sự việc xảy ra thầy Mĩ vẫn đứng bên ngoài vì chưa có chứng cứ vi phạm, để nỗi đau lại hoàn toàn cho gia đình em Dương.

Tóm lại, đi tìm lời giải đáp thật khách quan và chính xác cho cái chết của em Dương là điều khó khăn. Nhưng đó là điều không thể không làm.

Với bài viết này tôi không hề có ý bênh vực gia đình em Dương và công kích thầy Mĩ. Mà bằng cái nhìn khách quan và kinh nghiệm của người trong nghề, tôi chỉ muốn nói lên quan điểm của mình để góp thêm tiếng nói làm cho công lý minh bạch rõ ràng, xem xét đúng trách nhiệm những người có liên quan, để môi trường giáo dục ngày càng trong sạch, xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Dương Cầm

Trăn trở về lương tâm người thầy qua cái chết của học sinh (phần 1)


Trăn trở về lương tâm người thầy qua cái chết của học sinh (phần 1):

Nghệ thuật dạy dỗ của người thầy

(Dân trí) - Những sự cố học sinh quyên sinh đều làm cho những người có lương tri phải đau lòng. Đó không chỉ là sự tổn thất đối với gia đình các em mà còn là sự mất mát của xã hội, nhất là đối với nhà trường và thầy cô giáo của các em.
 >>  Vì đâu một học sinh lớp 10 tự tử?
 >>  Vụ học sinh lớp 10 tự tử: Thầy giáo xin tạm nghỉ việc

LTS Dân trí - Vụ học sinh lớp 10 Nguyễn Ngọc Dương ở trường THPT Ngô Quyền (Hải Phòng) quyên sinh cách đây chưa lâu, khiến dư luận phải đặt ra những câu hỏi về trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội, nhất là trách nhiệm của thầy giáo có liên quan trực tiếp với sự cố đáng tiếc đó.

Bài viết dưới đây của một thầy giáo có sự nhìn nhận khách quan, lưu ý trách nhiệm và lương tâm của người thầy trong cách ứng xử với trò, nhất là đối với những trò có những biểu hiện tâm lý không bình thường. Đây cũng là bài học kinh nghiệm cần rút ra để tránh tái diễn những vụ đau lòng tương tự.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của nhà giáo Dương Cầm, được chia làm hai phần:
 
Cú sốc
 
Vốn là thầy giáo dạy kiến thức văn hóa và giáo dục đạo đức cho học sinh, nhiều lúc tôi phải trăn trở, đau lòng với những sự thật cay đắng xảy ra ở đâu đó trong môi trường giáo dục của chúng ta.

Một vụ điển hình làm tôi thấy tiếc nuối, đau lòng và suy nghĩ trăn trở kéo dài là sự cố dẫn đến cái chết của em Nguyễn Ngọc Dương - học sinh lớp 10C3 trường THPT Ngô Quyền - Thành phố Hải Phòng vừa xảy ra ngày 29/4/2011.

Sự việc như một hồi chuông gióng lên cảnh tỉnh những nhà sư phạm đã có phần thờ ơ, thiếu trách nhiệm trước những biểu hiện bất thường của học trò như vậy. Có lẽ họ vẫn thường nghĩ rằng mình làm người thầy dạy dỗ học sinh cho nên có quyền được nói gì thì nói, miễn sao không nằm ngoài việc học tập của các em.

Họ cho rằng mình hoàn toàn đúng vì tất cả những lời nói đó xuất phát từ tình cảm và trách nhiệm, mà không ý thức được rằng: ở lứa tuổi này và với hoàn cảnh cụ thể của các em, thì việc tiếp nhận những lời nói, thái độ và hành động thiếu cân nhắc của người thầy đôi lúc là cú sốc lớn, là quá nặng nề với các em.

Họ không hiểu rằng cái sự dạy dỗ của mình cũng đòi hỏi một “nghệ thuật”. Nếu không có thể dẫn tới hậu quả khó lường. Vẫn biết rằng với số lượng học sinh khá đông, việc quan tâm sâu sát đến từng học sinh là điều rất khó. Nhưng với các học sinh trong lớp mình làm chủ nhiệm và đặc biệt với những học sinh có biểu hiện bất thường, thì việc tìm hiểu sâu sắc hơn đối với các em là thuộc về trách nhiệm và lương tâm của người thầy.
 
Ngôi trường nơi Dương theo học trước khi học sinh này tự vẫn. (Ảnh: D.P)
 
Sức nặng phía sau lời nói
 
Do không may bị ốm, biết về vụ việc này hơi muộn, nhưng tôi đã đọc kỹ tất cả những thông tin về cái chết của em Nguyễn Ngọc Dương trên những báo điện tử có uy tín hàng đầu như Dân trí, Vietnamnet và Tiền Phong. Qua đó tôi cũng có thể hình dung, hiểu được điều gì đã xảy ra giữa thầy giáo Hoàng Xuân Mĩ và em Nguyễn Ngọc Dương.
 
Trong bài viết này tôi muốn nói lên những vấn đề ẩn đằng sau vụ việc mà tôi chưa thấy được đề cập  một cách thỏa đáng qua những bài báo trên mạng.

Tôi tin chắc mọi chuyện không đơn giản chỉ là vài câu nói và hành động nhẹ nhàng của thầy giáo như một tờ báo đã đưa rằng: “Hôm đó thầy Mĩ gọi học sinh Dương lên bảng làm bài tập, Dương không làm được bài, thầy Mĩ yêu cầu học sinh Dương đứng trước lớp đồng thời gọi những học sinh khác lên chữa bài tập nói trên... Nhưng Dương đã tự ý bỏ về chỗ ngồi. Sau đó, thầy Mĩ có kiểm tra vở bài tập của học sinh Dương và phát hiện em không làm bài tập về nhà. Thầy Mĩ có nói: “Nếu em không thích học lớp này thì bảo bố mẹ xin chuyển sang lớp khác...” và “học dù dốt nhưng phải ngoan”.

Sau khi em Dương không làm được bài tập thì những diễn biến tiếp theo sau đó giữa thầy Mĩ và em Dương, tôi cho rằng không đơn giản và chỉ có mấy câu ngắn gọn như vừa trích ở trên đây.

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn
Theo bài Khoảng lặng sau chuyện nam sinh tự chết cũng ở tờ báo này khẳng định rằng: “Theo tường trình của thầy M., chiều 28/4, khi gọi lên bảng chữa bài,D. không làm được, bỏ về chỗ mà không xin phép. Sau khi chữa bài xong cho các em khác, thầy giáo xuống chỗ D., thấy vở vẫn chưa làm được và có nhắc nhở “nếu không làm được thì xin phép không được tự bỏ về chỗ”. Lời nói này có thể khác đi với thực tế”.

Một số học sinh lớp 10C3, cùng lớp khẳng định thêm: “Khi thầy M. hỏi bài tập trước đó đâu, D. nói quên ở nhà. Các em cũng cho biết có chuyện D. nói to trước lớp với thầy việc mình không làm được bài. Và thầy M. có nói, nếu “anh” thấy học lớp này khó quá thì nên nói với cha mẹ xin chuyển lớp khác. D. sau đó đã khóc. Lúc ra chơi, có bạn thấy cậu đứng ở hành lang, mắt buồn rượi, muốn tới an ủi, D. chỉ nói “không sao, bạn vào lớp trước đi”.

Qua sự việc em Dương bật khóc trước lớp chúng ta có thể thấy rằng vấn đề không đơn giản chỉ là những lời nói bình thường thuần túy mang tính giáo dục của người thầy giáo. Điều đó có thể phân tích như sau:

Trước hết, việc thầy Mĩ bắt em Dương đứng trước lớp như một hình phạt là điều không phù hợp và không nên làm đối với học sinh cấp III.

Thứ hai, xét kỹ trong câu nói: “Nếu em không thích học lớp này thì bảo bố mẹ xin chuyển sang lớp khác...” của thầy Mĩ đối với học sinh là đã có những điều khó chấp nhận, bởi ít khi có chuyện học sinh không thích học lớp mà mình đã theo học từ đầu. Việc chuyển lớp là điều bất đắc dĩ. Như vậy là giáo viên đã có những lời nói không cần thiết.

Tôi cũng từng là học sinh giỏi suốt quá trình học từ lớp 1 đến lớp 9 như em Dương, nhưng khi lên cấp 3 việc học của tôi ngày càng sa sút nên tôi hiểu được điều gì đã xảy ra trong tư tưởng của em Dương trong hoàn cảnh đó.

Thứ ba là trong câu nói của mình thầy Mĩ có dùng “dốt”, một từ tối kỵ khi dùng trong nhà trường và bản chất của nó trong trường hợp này là sự xúc phạm, sỉ nhục. Chúng ta hãy cùng suy nghĩ xem, một em vốn là học sinh giỏi nhiều năm nay bỗng bị la mắng là “dốt” sẽ bị tổn thương như thế nào.

Nếu bằng cách nói khác, thay từ “dốt” bằng từ “học chưa tốt” với thái độ ân cần thì mọi chuyện đã có thể trở nên nhẹ nhàng hơn. Qua bức thư tuyệt mệnh và những thông tin liên quan, tôi nhận thấy em Dương là một con người nhạy cảm, giàu tình thương, sống nội tâm và có phần yếu đuối nên rất dễ bị tổn thương.

Vậy nên nếu nói rằng thầy Mĩ hoàn toàn không có lỗi như độc giả Hoàng Ngọc Quỳnh Lam trong bức thư Gửi nam sinh Ngô Quyền và các trò định chết là không thuyết phục.

Theo tôi, bức thư đó chưa đánh giá được vấn đề một cách sâu sắc và khách quan. Còn theo quan điểm của bản thân em Dương trong thư tuyệt mệnh của mình đã khẳng định rằng: “Dương bị thầy M, giáo viên chủ nhiệm (kiêm dạy môn Hóa) sỉ vả”  thì dù đúng hay chưa đúng, cũng là điều không thể thay đổi và đáng lưu ý.

Mặt khác trong câu nói của thầy Mĩ có nhắc đến phụ huynh, rất có thể hàng ngày em đã mang mặc cảm có lỗi với bố mẹ về việc học tập của mình, và khi thầy nhắc đến điều đó càng làm em khổ sở dằn vặt nhiều hơn, cảm thấy bị xúc phạm đến bật khóc giữa lớp.
 
(Còn nữa)

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Thư cho đứa em luôn tự nguyền rủa mình


Thư cho đứa em luôn tự nguyền rủa mình

Em yêu mến,
Anh viết thư này cho em, mà "em" ở đây, lần đầu tiên trong đời anh, lại không phải là một cô gái. Cũng không hẳn là một chàng trai. Em luôn kêu lên với "toàn thể thế giới" là: "I am gay". Vâng! Em là một người đàn ông có xu hướng đồng tính dục: Em chỉ yêu đàn ông. Chuyện đúng ra cũng chẳng có gì đáng nói. Và anh cũng không nhất thiết phải viết lá thư này cho em. Với anh, dù em có là "gay" đi nữa, mặt trời vẫn mọc, chim vẫn hót, mây vẫn bay và hoa vẫn nở. Và anh thấy cuộc đời em vẫn đẹp, vẫn đáng sống bội phần. Nhưng điều đáng nói ở đây là em luôn tự nguyền rủa chính mình. 


Thực ra, anh và em chưa một lần gặp gỡ ngoài đời thực. Chúng ta chỉ biết nhau qua thế giới ảo YuMe. Và hơn nữa, biết nhau trong một khoảng thời gian không dài. Em hầu như không biết gì nhiều về anh. Nhưng ngược lại, anh lại biết nhiều về em, nhiều hơn nhiều lần những gì em tưởng. Nói cho rõ ràng hơn thì đó cũng chỉ là một việc tình cờ. Anh hay lang thang trong thế giới YuMe và tìm về những trang blog ít người đọc, bị bỏ quên trong những góc vắng. Và ở đó, anh đã tình cờ bắt gặp và đọc hết những gì em viết về cuộc đời em. Em đã viết hết ra những uẩn khúc của đời mình, chi tiết và tỉ mỉ. Và anh đã vô tình đọc hết chúng, xót xa và nghẹn ngào. Thế là, con tim vốn thường hay mẫn cảm với những bất trắc và bi ai của người đời của anh đã có dịp để... "dỗi hờn".
Anh đã thấy những tế bào thần kinh trong con người mình như tím thắt lại khi đọc những trăn trở, dằn vặt khôn nguôi của em từ những ngày thơ trẻ khi em nhận ra sự khác biệt trong con người mình về xu hướng tính dục. Em hoang mang, giãy giụa và hấp hối trong một cõi mịt mù của những xúc cảm sinh lý rối bời không lời giải đáp. Trong khi đó thì chung quanh em, tất cả mọi người lại khép kín, im lặng với bộ mặt lạnh lùng của một quan tòa, luôn sẵn sàng để ban ra án lệnh. Do đó, em mang mặc cảm tội lỗi, một tội lỗi "kinh thiên động địa". Dù rằng, lòng em cứ mãi băn khoăn tự hỏi:  Em đã thực sự làm gì nên tội? 


Không! Em của anh ơi, em hoàn toàn không có tội gì cả. Tại sao em lại phải chịu trách nhiệm cho những xúc cảm sinh lý bẩm sinh vốn đã gắn chặt với em từ những ngày còn trong bụng mẹ? Mọi người thường nghĩ rằng, môi trường gia đình và tác động xã hội đã ít nhiều góp phần tạo nên sự định hướng cho xu hướng tính dục. Một mặt, anh cảm thấy rằng điều đó không phải là hoàn toàn không có cơ sở, nhưng mặt khác, anh tin tưởng rất mạnh mẽ, cái tin tưởng của một con người có học, rằng cái xu hướng tính dục kia đã kết chặt với mỗi phận người từ lúc mới chào đời, như một thuộc tính đặc trưng của mỗi cá thể. Và vì là thuộc tính đặc trưng, nó không thể thay đổi.
Điều hiển nhiên mà ai cũng thấy và chấp nhận là không ai có thể bắt ép được một người dị tính luyến ái yêu thương tính dục một người đồng giới được cả. Thế mà, có nhiều người và rất nhiều người (trong đó có cả những vị bác sĩ quê mùa, tội nghiệp) lại tự huyễn hoặc chính mình một cách ngây thơ và phi lý rằng có thể làm cho một người đồng tính luyến ái yêu thương tính dục một người khác giới. Và chính vì nghĩ như vậy, họ không ngại ngần khi khoác lên xu hướng tính dục đồng giới những danh xưng không hoa mỹ như "bệnh", "bệnh hoạn" hay "biến thái". Thực ra, với sự hiểu biết và nhận thức khá cấp tiến và chính xác về vấn đề này được phổ cập hầu như trên toàn thế giới hiện nay, những người thốt ra những lời lẽ đó đã tự phỉ báng vào sự thông minh của mình hơn là nói lên được thực chất của vấn đề. 


Hôm nay, anh có chút thời gian rảnh và đã dạo một vòng quanh YuMe. Anh đã vô cùng sửng sốt và kinh ngạc để nhận thấy rằng trong thế giới YuMe, một thế giới trẻ mà anh đặt nhiều niềm tin vào kiến thức và sự hiểu biết, hiện hữu không ít những con người tự hào có học vấn nhưng lại vô tư phỉ báng vào trí thông minh của mình một cách không thương tiếc như thế. Xa hơn nữa, một thái độ quê mùa đáng buồn cười khác có thể được tìm thấy ngay cả trên phương tiện truyền thông đại chúng quốc gia, dù rằng ở mức độ tinh tế hơn.
Thí dụ như trong một chương trình talkshow truyền hình, khi nói về vấn đề này, cái cách nói, cách cười, cách dùng từ và biểu lộ trên khuôn mặt của cô thạc sĩ và hai vị MC có học, cứ gieo cho người xem cái cảm tưởng như họ đang xầm xì sau lưng về những khuyết tật đáng khinh nào đó của con người hơn là đang trình bày về một vấn đề nghiêm túc. Có lẽ các vị này nên được gởi đi tu nghiệp để học thêm về ngôn ngữ cơ thể (body language) và sự trân trọng con người "tự trong tim". 
Nãy giờ anh nói dài dòng như vậy là có ý để em hiểu rằng, thực ra, anh hiểu lắm tại sao em cứ luôn nguyền rủa chính mình. Sống trong một xã hội mà sự tiến bộ và hiểu biết, dẫu có mở rộng nhưng vẫn chưa đủ để phá vỡ hết mọi định kiến hẹp hòi và lệch lạc, thì làm sao có thể trách em khi em không thể bước ra khỏi cái bi kịch tự thân và ảo tưởng của chính mình. Anh muốn nói với em rằng xu hướng tính dục đồng giới không phải là một bi kịch. Nó chỉ đơn thuần là một sự khác biệt.


Mà thói đời luôn đối xử bất công với những gì khác biệt. Những gì người ta đối xử với những người như em bây giờ cũng chính là những gì người ta đã đối xử với người Mỹ da đen hơn 50 năm về trước trong xã hội Mỹ. Ngày ấy, một người da đen thậm chí không được quyền ngồi chung toa tàu với người da trắng. Và như một qui luật tất yếu, em ơi, tất cả mọi sự bất công, phân biệt và kỳ thị, cuối cùng, phải đến ngày cáo chung!
Anh cũng hiểu là tại sao em không ngần ngại trở thành một tên "du côn" để đáp trả một cách "thích đáng" với những lời nói và thái độ vô minh của một số người đời. Trong hoàn cảnh và nhận thức hiện tại của mình, em không tìm được sự lựa chọn nào khác. Và anh thông cảm và tán thành điều đó. Nhưng thói "vô minh" của người đời cứ như là nấm dại sau cơn mưa, em có nghĩ là em sẽ bỏ cả đời em ra chỉ để diệt loài cỏ dại? Những cú đấm trả rồi sẽ cứ như là đấm vào khoảng không, chỉ để lại một khoảnh khắc hụt hẫng phía sau cho người tung ra nắm đấm.
Hãy thử một lần thoát ra khỏi nỗi bi kịch tự thân mà ở đó em ngày đêm miệt mài "làm tình" với nỗi thống khổ để tìm thú hoan lạc đau thương. Hãy thử một lần rũ sạch quá khứ và làm lại từ đầu nơi em bước tới trong cuộc đời mới với đầu ngẩng cao và ung dung từng bước một không màng những thị phi. Đời sống của một con người quá ngắn và quá quí giá để phung phí vào những canh bạc thua đủ với cuộc đời. Thoát ra và rũ sạch đi em, anh tin là ngày mai chim sẽ về hót giữa sân nhà em. 


Thực ra niềm tin của anh về em cũng dựa trên một cơ sở. Với anh, em đã hai lần chứng tỏ mình là một con người thực sự dũng cảm. Lần đầu khi em công khai tuyên bố về xu hướng tính dục của mình. Và lần thứ hai, khi em đã dám đối mặt trực diện với những gì phi lý để đòi sự công bằng. Với anh, em luôn là một thằng đàn ông đúng nghĩa và có lẽ còn "đàn ông" hơn cả vô số đàn ông trên cõi đời này. Anh nói như vậy là vì anh nghĩ một người đàn ông đúng nghĩa không thể hẹp hòi và thiển cận đến mức để những suy nghĩ và lời nói của mình làm tổn hại đến người khác cho dù ở bất kỳ cấp độ nào và về mặt tinh thần hay thể xác. Với ý nghĩ như vậy, nhìn chung quanh, đôi khi anh không thực sự thấy có nhiều "đàn ông".  
Khi còn sống, cứ mỗi đêm chàng nhạc sĩ họ Trịnh lại nhìn lên trời cao để học về sự bao dung và lòng độ lượng. Còn anh, anh đã tốn hơn mười năm trời mài đũng quần trên ghế của ba ngôi trường đại học ở Việt Nam và Mỹ chỉ để học một điều: Học cách để cho giọt nước mắt của mình rơi xuống trước những nỗi đau đời của đồng loại. Cứ mỗi lần có thêm một giọt nước mắt của anh rơi, anh lại thấy mình trở nên "người" hơn bao giờ hết. Cám ơn em đã cho anh có dịp để nhỏ một giọt nước mắt cho nỗi đau ấy cùa đời em. Và trong niềm tri ân ấy, anh nhận ra là anh đã rất thương em, như thương một đứa em ruột thịt của mình - tình thương của một thằng đàn ông dành cho một thằng đàn ông. Với anh, tình thương, cũng như đạo đức, có phân biệt giới tính bao giờ.
Bây giờ, anh bắt gặp mình đang mơ một giấc mơ. Trong giấc mơ đó, anh trở về nhà từ sau một chuyến đi xa và thằng em luôn tự nguyền rủa chính mình của anh vội vàng chạy đến đón anh và nói trong hơi thở dốc: "Anh Hai ơi, bây giờ em vui lắm anh Hai!"
11/06/2011
Jeffrey Thai