Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

ĐƯỜNG XÂY DỰNG NHÂN CÁCH

ĐƯỜNG XÂY DỰNG NHÂN CÁCH

Kỷ niệm sinh nhật Thầy 4/8/ Ất Dậu
Trong sự phát triển của xã hội loài người, các tôn giáo đã cùng với sự vận động của xã hội mà xuất hiện. Đó là sự phản ánh một cách tự nhiên quá trình nhận thức của loài người, đối với các hiện tượng khách quan đang tồn tại ngoài ý thức con người thông qua các tôn giáo mà họ đã tin.
Vì vậy, các tôn giáo chính là sản phẩm của loài người, lấy con người làm đối tượng nghiên cứu, để rồi quay trở lại tồn tại cùng con người.
Nhưng do các nghiên cứu đó có những xuất phát điểm khác nhau, mang tính mục đích khác nhau về con người và về thế giới, nên có quan điểm rất khác nhau.
Ví dụ: Đạo Hồi, đạo Do Thái, đạo Ki Tô giáo đều có chung một quan niệm cho rằng con người là do thiên chúa sinh ra. Vì vậy, con người còn phải có nghĩa vụ phụng sự cho Thiên Chúa, phụng sự đức tin với Chúa, người sáng tạo ra muôn loài trên thế gian này.
Đạo Phật cho rằng có thế giới này là do duyên hợp mà tồn tại, nếu duyên hết thế giới này sẽ tan. Nghĩa là thế giới này cũng chỉ là thế giới của nhân quả. Bản chất của thế giới chỉ là khổ, không, vô thường và vô ngã, qua đó cho thấy đạo Phật không công nhận có Thượng Đế, có Thiên Chúa, có Ngọc Hoàng v.v… nghĩa là đạo Phật không công nhận có thế giới thần linh mang tính siêu hình, nơi mà thần quyền có quyền ban phúc hoặc giáng họa cho thế giới con người.
Còn đối với con người xuất hiện trong cuộc sống từ nhân quả mà sinh ra, sống trong nhân quả chết lại trở về nhân quả.
Từ những nhận thức khác nhau về con người và về thế giới như vậy, mà mỗi tôn giáo có sự nghiệp giáo dục các tín đồ mang tính mục đích khác nhau.
Trong bài viết này chúng tôi không có tham vọng trình bày sự khác nhau trong sự nghiệp giáo dục của các tôn giáo. Mà chúng tôi chỉ muốn đề cập đến sự hiểu biết còn rất hạn chế của chúng tôi, về sự nghiệp giáo dục của đạo Phật, thông qua tiêu đề, đạo Phật, con đường xây dựng nhân cách để chia sẽ đến các bạn cùng tham cứu về một nền đạo đức mà đạo Phật đã mang tới cho loài người, mà chúng tôi đã cảm nhận được qua việc tu học và rèn luyện.
Muốn hiểu được mục đích giáo dục của đạo Phật đối với con người, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm Nhân Cách. Vậy nhân cách là gì?
Nhân cách chính là tính người - là những hành vi ứng xử văn hóa của con người đối với môi trường sống của mình, mà thông qua đó có thể đánh giá được những giá trị đích thực của con người.
Vậy, như thế nào là người có nhân cách? Xin được dẫn lời của Trưởng Lão Thích Thông Lạc đã nói: “Con người chỉ là một loài động vật như bao loài động vật khác. Nhưng con người chỉ được gọi là con người khi nào con người có đạo đức. Còn nếu con người không có đạo đức, con người còn ác độc hơn loài cầm thú”.
Từ nhận định trên giúp cho chúng ta hiểu rõ: con người có nhân cách phải là con người có đạo đức, hay phẩm chất đạo đức chính là phẩm cách của con người.
Đến đây chúng ta gặp phải một vấn đề rắc rối, bởi vì, đặt vấn đề chuẩn mực để định giá trị đạo đức là rất khó, cách đánh giá đạo đức rất khác nhau, nó phụ thuộc vào quan niệm sống của xã hội, nó thay đổi theo quan điểm giai cấp, thay đổi theo thể chế chính trị, thay đổi theo hoàn cảnh, tùy theo mỗi lúc mà vấn đề đạo đức lại có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Ví dụ: người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà chửa hoang, sẽ bị những dư luận xã hội đương thời lúc đó, lên án một cách mạnh mẽ và xử phạt một cách nghiêm khắc.
Cũng trong xã hội phong kiến, lại có người thông cảm đứng ra bênh vực và bảo vệ họ, như nhà thơ Hồ Xuân Hương đã viết:
“Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian thường tình”
Trên thực tế quan niệm đạo đức đã bị lạm dụng để phục vụ cho những mục đích khác nhau của loài người.
Trong cái mớ bòng bong rắc rối của những quan niệm đạo đức do con người đặt ra như thế, nó không mang tính nhân bản. Vì vậy cần phải có một cách nhìn khác, một cách đánh giá khác mang tính khách quan và mang tính chuẩn mực.
Rất may mắn đạo Phật đã giúp đỡ chúng tôi và cả các bạn nữa, nếu bạn đồng thuận với quan điểm này của đạo Phật, nó sẽ giúp chúng ta thoát ra khỏi những rắc rối này.
Quan điểm vì đạo đức của đạo Phật rất cụ thể, không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ cả hai. Chỉ cần ngắn gọn như vậy nhưng vô cùng chính xác, và mang tính bao dung và hàm chứa tất cả.
Chỉ cần sống không làm khổ mình, không làm khổ người là chúng ta đã trở thành một người có đạo đức.
Vấn đề đạo đức mà đạo Phật đề cập tới tưởng chừng đơn giản dễ hiểu, nhưng thực hiện được thì không đơn giản một chút nào.
Muốn thực hiện được, nó đã đòi hỏi phải có một sự hiểu biết sâu sắc, có trí tuệ quán xét, để điều chỉnh các hành vi ứng xử của mình đối với môi trường sống sao cho có văn hóa.
Bởi vì đã từ lâu, con người đã quen sống một cách tùy tiện, buông thả để chạy theo những thói quen mang đầu óc tính toán, vị kỷ, vụ lợi, tay với người này để chấp nhận lấy người khác, thì cũng ở trong vòng lẩn quẩn chẳng hơn gì. Hoặc có người lén lút làm việc tà hạnh, vi phạm nhân luân, khi thân bại danh liệt cũng chẳng sung sướng mà còn chuốc họa.
Do con người sống trong cuộc đời có nhiều mê lầm quá, ít ai hiểu được chính dục vọng đã đẩy người ta vào lỗi lầm. Dục vọng làm con người điên đảo, vì những dục vọng con người lao vào tranh đấu và giành giật của nhau, tìm cách mưu mô hãm hại lẫn nhau. Cho nên, cuộc sống của con người đầy những tai ương, hoạn nạn.
Chỉ khi nào loài người có một nền văn minh khác, một nền văn minh tinh thần trong sáng, thánh thiện, mang tính đạo đức nhân bản, khi đó con người mới thoát ra khỏi khổ đau, và những giọt nước mắt đắng cay của chúng sinh không còn phải nhỏ xuống nữa.
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về nền đạo đức của đạo Phật.
Đức Phật sau khi chứng đạo, bằng tuệ Tam Minh Ngài hiểu thấu chúng sinh có những hạnh nghiệp thiện, ác khác nhau, nên thọ nhân quả báo khác nhau: người giàu sang, kẻ nghèo hèn, người tốt kẻ xấu, người khỏe mạnh, kẻ ốm yếu bệnh tật, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, người sống lâu, kẻ chết yểu v.v.. tất cả đều do hạnh nghiệp của chúng sanh đã tạo ra mà nhận lãnh quả khổ vui.
Dù hạnh nghiệp khác nhau, chúng sanh vẫn không thể thoát ra khỏi cái khổ của vị ràng buộc vào vòng sanh tử luân hồi và bị trôi lăn trong vòng lục đạo. Nếu làm ác sẽ còn bị dễ rơi xuống những vực thẳm hay hang sâu của những kiếp sống, mà ở đó họ, luôn luôn bị săn đuổi bởi những đau khổ cùng cực, do nghiệp lực của cái ác mang lại.
Nếu trong kiếp sống hiện tại, họ được nhận một giáo pháp chân chính, từ một vị Thầy đã chứng đắc, và nếu khéo tu tập rèn luyện, họ có thể chuyển đổi nghiệp nhân quả và thậm chí còn có thể thoát ra khỏi sanh tử luân hồi.
Chính vì vậy 50 năm trụ thế, đức Phật đã mang triển khai dạy cho mọi người giáo lý và các phương pháp thực hành từ những kinh nghiệm chứng đắc và sự hiểu biết sâu sắc của Ngài về một con đường thoát khổ, để mọi người qua đó tu tập rèn luyện sẽ trở thành người có đạo đức, nhờ sống có nền nếp đạo đức mà các thiện pháp được tăng trưởng, các ác pháp được ngăn chặn và tiêu diệt.
Đấy chính là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người, không có đổ máu giúp con người thoát được đau khổ, là ý nghĩa thiết thực và lợi ích cụ thể mà đạo Phật mang tới cho mọi người.
Đạo đức của đạo Phật rất là cụ thể: không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ cả hai.
Nếu người nào tu theo đạo Phật, mà không trở thành người có đạo đức thì trong cuộc sống hằng ngày còn có những biểu hiện của sự tham lam theo những định kiến sai lầm của lòng đố kỵ, tị hiềm ganh ghét, sân hận từ đó dẫn tới những cuộc xung đột mang đau khổ cho mình và cho người.
Chính từ những hành vi, ứng xử thiếu văn hóa, mang bản chất của sự tham lam và sân hận, mà con người đã sống không đạo đức, thiếu đi tính người.
Do vậy từ bao đời nay, vấn đề giáo dục đã được xã hội loài người rất chú trọng, bởi giáo dục là một qui luật phát triển của xã hội loài người, nhằm truyền trao kiến thức của lớp người trước cho lớp người sau, nhằm mong muốn thoát ra bản năng của loài cầm thú.
Giáo dục là một sự nghiệp mang đến cho con người những tri thức hiểu biết, để sử dụng nó vào mục đích khám phá và sáng tạo, nhằm phục vụ cuộc sống con người ngày một thỏa mãn hơn những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội loài người.
Trong xã hội hiện tại ngày nay, do được hưởng một nền giáo dục đa dạng mang tính thực dụng mà con người không còn lạc hậu như trước, nhưng thực tế, liệu xã hội loài người đã hết khổ đau?
Sự thật chưa một phút giây nào trái đất được bình yên, ở nơi này, ở nơi kia không giây phút nào không có những giọt nước mắt đau khổ của chúng sanh phải nhỏ xuống.
Trên thực tế chúng ta nhận thấy: ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, đã đẩy nền kinh tế phát triển lên theo, nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất để thỏa mãn ham muốn của con người.
Để có nền kinh tế phát triển, phải có đầy đủ nguyên liệu, nhiên liệu cung cấp cho sản xuất, do thế, ngày nay các nguồn tài nguyên được khai thác một cách bừa bãi, rừng bị chặt phá một cách vô ý thức, đã phá hủy môi trường sinh thái của loài người, làm cho nhiều loài động thực vật bị hủy diệt.
Nhiều nhà máy sản xuất ngày đêm, đã tuôn vào tầng khí quyển hàng triệu mét khối khí cac bon dẫn đến diệt tầng Ô zôn - lớp áo giáp bảo vệ trái đất bị phá thủng.
Nhiều loài động vật bị con người săn bắt, chế biến thành thực phẩm, bị con người khai thác một cách triệt để, khiến nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Vì thế, ngày nay các cuộc chiến tranh tương tàn, tương sát giết hại lẫn nhau không giảm đi, mà ngày càng có chiều hướng gia tăng. Nhiều bệnh dịch quái lạ phát sinh, trong đó phải kể đến bệnh thế kỷ HIVđã cướp đi và sẽ cướp đi hàng chục triệu sinh mạng, mà ngày nay khoa học vẫn chưa tìm cách chữa trị được.
Thời tiết ngày nay cũng trái mùa, trái buổi, giữa mùa hè Châu Phi lại có tuyết rơi, giữa mùa đông Châu Âu có ngày nhiệt độ lên tới 40°, rồi động đất, núi lửa, hạn hán bão lụt, sóng thần, hỏa hạn cháy rừng xảy ra liên miên ở nơi này, nơi kia trên thế giới.
Tất cả những hiện tượng xảy ra, nhằm cảnh báo cho loài người biết vì cơn thịnh nộ của thiên nhiên theo qui luật nhân quả mà không có một kẻ làm ác nào tránh khỏi. Cho nên, tất cả mọi biến cố xảy ra trên hành tinh này đều không có một người nào chịu hàm oan. Tất cả cách xử phạt rất công bằng, công lý trong đạo luật này. Trong đạo luật này người cầm cán cân công lý chính lương tâm và hành động thiện ác của mỗi người.
Nếu con người không chịu dừng ngay các tội ác. Cơn thịnh nộ của thiên nhiên theo qui luật nhân quả sẽ không tha thứ.
Nếu nền văn minh hiện đại ngày nay có khả năng chế ngự được các sức mạnh của nhân quả, của thiên nhiên không? Liệu con người ngày nay có khả năng ngăn chặn nổi được các cuộc chiến tranh đẫm máu, đang xảy ra ở nơi này nơi khác trên thế giới, và có thể chặn tay được những khủng bố cực đoan đang gieo rắc cái chết đến cho mọi người?
Tất cả những câu hỏi trên đã và đang là nỗi bức xúc trăn trở cho nhiều người có lương tri trên thế giới. Nhưng hỏi chỉ để mà hỏi, con người vẫn chưa làm sao tìm ra được một câu trả lời thỏa đáng, để thoát ra được khỏi những ràng buộc của các qui luật nghiệt ngã đang vây quanh chúng ta, để cuộc sống này được bình yên.
Chỉ đến khi nào loài người có suy nghĩ nghiêm túc, về những hiện tượng đang xảy ra chung quanh chúng ta trong mối quan hệ nhân quả tương hổ. Lúc đó, con người mới có một thái độ ứng xử có văn hóa với chính môi trường sống của chính mình, bằng một thái độ trân trọng, nâng niu và gìn giữ, lúc đó con người mới thoát ra những nỗi khổ đau do chính con người gây ra. Lúc đó con người mới thoát ra khỏi bản năng loài cầm thú. Hay nói cách khác con người sống được với nền đạo đức nhân bản nhân quả không làm khổ mình, không làm khổ người.
Nhưng điều này thật là khó chỉ vì chúng sanh vô minh điên đảo, tạo ra bao lỗi lầm gây ra bao tội ác, để chịu bao quả khổ, điều này lại càng khó, vì con người nếu không có nghị lực, và sự dũng cảm gan dạ để chiến thắng những thói quen, tật xấu đã gắn bó cuộc đời mình trong những hưởng lạc, họ sẽ là và đã là nô lệ cho những ham muốn thấp hèn, vì thế lương tâm bị suy đồi, nền đạo đức bị xuống cấp một cách nghiêm trọng, những tội lỗi nẩy sinh như cỏ dại mọc sau cơn mưa. Phật pháp gọi đó là thời kỳ mạt pháp, thực ra pháp không mạt, chỉ có lương tâm con người bị tha hóa mà thôi, vì muốn có danh có lợi, con người sẵn sàng phạm tội ác không tránh né.
Vì sao chúng tôi mở rộng vấn đề, bởi chúng tôi không muốn tách mối quan hệ của con người ra khỏi thế giới loài người. Vì thế giới của loài người là thế giới khổ đau đầy bất trắc, vui đó buồn đó, cười đó khóc đó, mấy ai được thanh thản, an lạc.
Gia đình là tế bào của xã hội, nhưng nhiều cặp vợ chồng nào được sống an vui hạnh phúc trọn vẹn đâu? Họ đều có sự vui, sự buồn, nghịch ý, trái lòng bất toại nguyện v.v.. nhưng vì cuộc sống là như vậy không có lối nào thóat ra hơn, nên đành phải cam lòng nhẫn chịu mà sống với nhau đến đầu bạc răng long. Hoặc ở người có tâm hồn nổi loạn thì tìm đến sự ly dị, chia của. Ngoài ra là phải nhìn đời bằng đôi mắt nhân quả, để sống trong đạo đức nhân bản - nhân quả. Nếu một ai chịu khó áp dụng vào tu tập, sẽ thấy lợi ích vô cùng, vì nó chuyển hóa được nhân quả.
Ví dụ trong cuộc đời gặp một đối tượng nào đó nổi nóng cãi cọ với mình. Lúc đó chúng ta có thể nhẫn nhịn mọi xô xát mà họ mang đến, không một lời phàn nàn oán trách, với ý thức đầy đủ của một người quyết tâm trả cho xong món nợ của tiền kiếp, và ta có thể bình tỉnh tìm lời khuyên giải họ. Thật kỳ lạ thay áp dụng lời dạy của Phật, chúng ta sẽ được an lạc và thanh thản tuyệt vời và ta hiểu ra chân lí.
Phật nói gặp khổ không buồn đó là giải thoát, vậy sự giải thoát đó là gì?
Đó là sự giải thoát ý thức khỏi sự trói buộc của ý thức, nếu trước đây chúng ta chấp chặt vào lời nói và việc làm của đối tượng, thì sự việc bỗng trở nên phức tạp hổn độn và lôi kéo chúng ta vào phiền não.
Bây giờ chúng ta nhìn sự việc bằng cái nhìn hiểu biết sâu sắc hơn, rộng mở hơn, yêu thương hơn, thì sự việc bỗng trở thành bình thường không đáng để lưu ý.
Bởi thế trước mỗi nghịch cảnh của cuộc đời, chúng ta không còn bị chìm đắm và nỗi oán hận, và tâm hồn chúng ta bỗng trở nên yên tỉnh và sáng suốt một cách lạ thường.
Trong chúng ta sẽ dâng lên một tình cảm với đối tượng của ta, vừa xót thương đồng thời, cũng vừa cảm ơn họ về những nghịch cảnh mà họ đã tạo ra cho chúng ta.
Xót thương là bởi họ đã tự làm khổ họ và đầu độc bầu không khí của môi trường sống bằng những chuyện không đâu.
Cảm ơn là họ đã tạo ra cho chúng ta một dịp để thử thách, và đó chúng ta rèn luyện và tu tập tâm hồn chúng ta thật tốt, học được chữ nhẫn và học cách yêu thương của Phật.
Khi biết nhìn đời bằng đôi mắt nhân quả, mọi sự việc bỗng trở nên đơn giản, rõ ràng và ta có nghị lực để chịu đựng.
Khi biết nhìn đời bằng đôi mắt nhân quả, thì con người không còn muốn làm ác, chỉ muốn tạo ra nhân lành thiện để đem lại hạnh phúc cho mình và cho người.
Khi biết nhìn đời bằng đôi mắt nhân quả con người biết xa rời những ham muốn thấp hèn, để vươn lên một đời sống thánh thiện hơn.
Các bạn có biết giá trị đích thực của con người là gì? Đó là nhân cách của một người sống vì người khác, khi đó họ là người có hạnh phúc.
Nói đến hạnh phúc là nói đến niềm vui của một người biết sống vì người khác. Khi người nói đến người, là khi họ biết làm phát triển con người họ một cách điều hòa và đầy đủ về tất cả phương tiện thể chất tri thức xã hội và tâm đức.
Cho nên có một câu danh ngôn đã viết “Người ta nghiêng mình trước tài năng, song người ta chỉ bái phục trước lòng nhân”.
Vì thế, của cải danh lợi không tạo ra giá trị cho con người, nó chỉ tô điểm cho con người và thực ra có cái gì phù vân hơn là của cải và danh vị, mà suốt đời con người phải chạy đuổi theo nó một cách mệt mỏi.
Vì vậy, nếu ta muốn sống có hạnh phúc, ta hãy ban phát hạnh phúc cho con người xung quanh bằng những điều thiện tâm, và từ việc làm thiện tâm của ta, sẽ làm nở ra một nụ cười trên môi của một người khác.
Thưa các bạn! Chỉ khi nào chúng ta đã quá nếm trải mùi vị đắng cay, lúc đó chúng ta mới có ý thức đầy đủ để đánh giá đúng đắn hơn vì niềm hạnh phúc chân chính này, mà đến bây giờ nhiều người vẫn hiểu sai về hạnh phúc, mơ hồ như là một khái niệm của sự thụ hưởng vật chất.
Nếu bạn có được cặp mắt trí tuệ nhân quả của đạo Phật, trang bị cho cái nhìn sâu sắc, bạn sẽ thấy niềm hạnh phúc giả tạm của cuộc đời mà nhiều người đang ham hố, là không thực và đầy nguy hiểm. Nó là sự cám dỗ để lôi kéo con người vào những kiếp khổ trong tương lai vì nó được, hình thành từ những dục vọng thấp kém.
Bởi vì tất cả sẽ hư họai, chỉ có nghiệp lành hay dữ là đeo đuổi con người sau khi chết. Cho nên, khi đang còn sống mọi người chỉ biết lấy vật thực để nuôi thân. Ít ai biết lấy đạo đức để nuôi sống tâm hồn mình.
Bởi vì chúng ta đã bị nghiệp ác chi phối, cho nên chúng ta nhìn nhận các sự việc trên mặt hiện tượng đối đãi của đúng, sai, phải, trái trong thế giới nhị nguyên đó, chúng ta đã bị kẹt cứng ở bờ bên này hoặc bờ bên kia. Bị lạc trong thế giới ma quái của những khái niệm ấy, chúng ta đã đánh mất đi con tim của mình, đánh mất đi tiếng nói của tình thương yêu, mà chỉ có nó mới xóa đi lòng thù hận, mà chỉ có tình thương mới vượt qua, và siêu thoát mọi đúng, sai, phải, trái. Do thiếu tình thương mọi người đang quằn quại khổ đau mà không ai hay biết.
Chính vì vậy giới luật của đạo Phật là cái phao giúp chúng ta vượt qua biển khổ. Giới luật của đạo Phật chính là lẽ sống, là nền đạo đức mà mọi người cần học hỏi, để sống được với nếp sống đạo đức. Bởi đạo đức mới xác định được phẩm chất của con người.
Nhìn cách đối xử của con người với con người, chúng ta có thể xác định và biết được con người đó có đạo đức hay không. Nếu không có đạo đức chúng ta nên tìm cách tránh xa họ.
Đức cung kính và tôn trọng lẫn nhau, rất cần thiết cho mọi người chung sống. Đức cung kính và tôn trọng chỉ có con người mới có mà thôi, vì đấy là thái độ ứng xử có văn hóa của con người.
Nếu con người không biết cung kính và tôn trọng lẫn nhau, cuộc sống này sẽ là địa ngục, sân hận đố kỵ, tỵ hiềm, ganh ghét, ngã mạn, cống cao, danh lợi, tật đố, bè phái, nói những lời chia rẽ, độc ác v.v.. thì người đó đã tu sai hoặc họ là trùng trong lông sư tử, người đó đang phá hoại đạo Phật.
Cho nên, nói đạo Phật là con đường tu dưỡng đạo đức, con đường của cái thiện, mà giới luật là hàng rào bảo vệ vững chắc không cho cái ác xâm chiếm.
Đức phật đã chỉ dạy rất rõ: “Giới luật ở đâu đức hạnh ở đó, đức hạnh ở đâu giới luật ở đó”.
Vì vậy chỉ cần nhìn và quan sát một hành giả tu theo đạo Phật, có giữ gìn giới luật nghiêm túc hay không, nếu người đó không tự biết thương mình để rèn luyện trong giới luật thì làm sao họ có được đạo đức để thương được người khác, họ sống chỉ làm khổ mình và làm khổ người khác mà thôi.
Cho nên giới luật là nền tảng, nếu không có giới luật, thì không có đức hạnh và trí tuệ, cũng không có sự giải thoát.
Giới luật trong đạo Phật không phải là một điều cấm, giới luật là những điều khuyên mọi người nên thực hành, mang tính tự giác cao, vì chính giới luật là thiện pháp giúp mọi người thoát khổ.
Trong cuộc sống mỗi con người chỉ là một cá thể sống chung, có nhiều cá thể khác cùng tồn tại. Và các quan hệ trong xã hội đó với nhau là nhân, là duyên của luật nhân quả. Vì vậy các quan hệ vợ chồng, con cái bố mẹ, anh em bạn bè Thầy trò v.v.. đều là mối duyên nợ của nhau từ nhiều đời, nhiều kiếp, kiếp này gặp được nhau, tìm đến nhau để trả món nợ ân oán với nhau, người có ân trả ân, người có oán đòi oán.
Trong môi trường xã hội cùng sống chung này, có những người gặp được may mắn. Có những người gặp phải bất hạnh đắng cay. Cuộc sống làm cho họ phải đau đớn, buồn tủi và uất hận, vì phải chịu đựng những khổ đau do cuộc đời mang lại đã dằn vặt họ, sai khiến họ.
Dù cùng sống chung trong một xã hội, mà cuộc sống của người này đã hoàn toàn xa lạ đối với người khác.
Lúc khổ đau dồn đến, nhiều người thường tấm tức oán trách trời đất sao nỡ bất công. Có lúc quá uất hận, họ muốn đập phá một cái gì đó cho hả giận, và cuối cùng đành đỗ lỗi, phải chăng đó là số mệnh?
Nhưng với người có duyên may được đạo Phật giác ngộ, thì sẽ sớm hiểu ra: tất cả khổ vui của cuộc đời này, đều do duyên nghiệp từ trước mang tới.
Vì vậy đức Phật thường dạy các đệ tử nếu con người đối xử với nhau hung dữ, đấu tranh chống nhau bằng miệng lưỡi, đánh đập nhau bằng sức lực,... thì cuộc sống sẽ tồi tệ, xấu xa và đen tối.
Khi mọi người biết cung kính và tôn trọng lẫn nhau, thì gia đình và xã hội trở nên thuận hòa mọi người biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Một cuộc sống hạnh phúc chân thật xuất hiện và thế giới này sẽ thành Thiên đường. Còn ngược lại sẽ trở thành hỗn độn bất ổn và Địa ngục.
Làm người tại sao ta lại làm khổ mình, khổ người tạo ra cả một bầu trời ảm đạm, thê lương, u buồn và đau khổ cho con người?
Một con người mà tự làm khổ đau cho mình, chỉ có những kẻ thiếu đạo đức và trí tuệ mới làm như vậy!
Làm khổ mình, làm khổ người có hạnh phúc gì đâu, mà đó chỉ là hành động phi nhân tính, mang đau khổ cho nhau, không những trong kiếp này và mãi mãi trong muôn kiếp.
Vì vậy một nếp sống đạo đức là điều rất cần thiết cho mọi người cùng chung sống với nhau trên hành tinh này.
Và nền đạo đức không làm khổ mình, không làm khổ người là nền đạo đức nhân bản nhất, ai cũng đều nên học và thực hành.
Có những người không phải hoàn toàn là xấu, xấu tốt đều do ý thức biến hiện mà sinh ra.
Nếu ai đó không thể đấu tranh nổi với những ham muốn thấp hèn ở trong tâm đã để cho những tham vọng mù quáng lôi kéo người đó là người xấu.
Còn ai biết dùng lương tri tỉnh thức của mình, để tiêu diệt cái ác, người đó là người tốt.
Trên bình diện của cái xấu và cái tốt, cái thiện và cái ác, nếu ai khéo tu sửa, người đó sẽ trở thành người có đạo đức.
Chúng ta nếu biết khéo tu dưỡng đạo đức thì từ người ác sẽ trở thành người hiền, từ người hiền sẽ trở thành bậc Thánh nhân.
Kính thưa các bạn! Vấn đề đạo đức của đạo Phật là một đề tài quá rộng lớn trong bài viết này chúng tôi chỉ dám mang ra mạn đàm cùng quý bạn những mảng hiểu biết còn rất hạn chế của chúng tôi về đề tài rộng lớn này.
Chúng tôi chỉ hy vọng với sự hiểu biết còn rất hạn chế, chúng tôi xin được đóng góp với quý bạn những kinh nghiệm, những hiểu biết còn quá ít ỏi của chúng tôi, để cùng nhau xây dựng đóng góp chung một sự hiểu biết vì nền đạo đức thật tuyệt vời của đạo Phật.
Mong rằng ai cũng tu dưỡng đạo đức thật tốt để biến cảnh thế gian này thành nơi Thiên đường, Cực lạc.
Xin được chân thành tri ân!
Kính ghi
Minh Đạo
Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 2005.
----&----

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

17 KIẾT SỬ

Bài này được trích ra từ bài giảng "Tứ Thánh Định" của thầy Thích Thông Lạc (từ phút 30 đến phút 45 trong băng giảng).

Năm hạ phần kiết sử:

1- Thân kiến kiết sử: chấp cái thân của mình, chấp cái gì đó là thường hằng bất biến, chấp phật tánh của mình, chấp có cái thường hằng sau khi chết.
2- Nghi kiết sử: trói buộc mình nghi ngờ cái gì đó, nghi người đó ăn trồm, bắt mình cứ dòm chừng người đó hoài. Đó là nó đang trói buộc mình, gọi là nghi kiết sử.
3- Giới cấm thủ kiết sử: Phật dạy chúng ta có 18 giới: mắt thấy đồng hồ sanh ra một cái thức, khởi ra tâm ham muốn. Vì vậy gọi là giới cấm thủ. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức biết, sanh ra ham thích. Chính 18 chổ này làm thành 18 sợi dây giới cấm thủ luôn trói buộc chúng ta. Thấy cái gì mà khởi ra ham muốn là nó đang trói buộc chúng ta.
4- Tham kiết sử: trói buộc mình vào tham muốn cái này cái nọ.
5- Sân kiết sử: trói buộc mình luôn khởi tâm sân hận ai đó.

Năm Thượng Phần Kiết Sử:

1- Sắc tham: là lòng tham vật chất, khi thấy thì khởi lòng tham.
2- Vô sắc tham: do nghe người ta nói cái gì đẹp, tốt liền khởi lòng ham muốn, đó là vô sắc tham.
3- Mạn: là kiêu mạn, lòng ngã mạn của mình.
4- Trạo cử: là nó làm cho mình nghĩ ngợi cái này, nghĩ ngợi cái kia hoặc cái thân bị ngứa ngái không ngồi yên được, nó gãy bên đây, móc bên kia, thì gọi là trạo cử thân, còn trạo cử tâm thì nó nghĩ hết cái này rồi nghĩ đến cái khác, lung tung đủ thứ. Hoặc là mình ngồi chỗ này một lát, mình đứng dậy đi, rồi ngồi lại, rồi mình đứng, rồi nằm, đủ cách, đó là bị trạo cử.
5- Vô minh.

 Thất kiết sử

1- Ái kiết sử: thương yêu, ghét
2- Sân kiết sử.
3- Kiến kiết sử là ý kiến của mình, kiến chấp, cãi luận dựa vào kiến chấp của mình.
4- Nghi kiết sử: cũng giống như ở trên, nhưng ở đây nó tóm lược lại vào thất kiết sử để không bị trùng, cũng là sự trói buộc vào những nghi ngờ.
5- Mạn: là kiêu mạn, ngã mạn.
6- Hữu tham kiết sử: thuộc về tham.
7- Vô minh kiết sử: thuộc về si.

Ở đây nó có nhiều cái trùng với ngủ triền cái, năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử, chỉ có thêm 2 cái mới là ái kiết sử và kiến kiết sử. Do vậy sau khi so sánh, cái nào trùng hợp thì chúng ta chỉ lấy một mà thôi. Còn cái nào không trùng hợp thì mình ghi ra để mình nhớ dành cho phần tu tập, để mình hướng tâm mình nhắc mình.

KIẾT SỬ

Bài này được trích ra từ bài làm chánh kiến của các tu sinh cho nên không đúng lắm, chỉ để tham khảo. Để chính xác hơn mời bạn đọc bài 17 Kiết sử của thầy Thích Thông Lạc tại đây.

1. Xả năm hạ phần kiết sử.

Năm hạ phần kiết sử gồm thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Kiết sử là sợi dây trói buộc. Năm hạ phần kiết sử là những sợi dây trói buộc phần thấp, thô, dễ thấy, hay bên ngoài. Chúng trói buộc chúng ta vào các chấp thủ thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân.

a) Thân kiến kiết sử.

Là sợi dây trói buộc con người vào chấp cái thân là của họ. Rồi họ xem cái thân là họ, cho nên mọi việc trên đời này họ sống, làm việc, lo lắng, buồn vui cũng vì cái thân này.

Đức Phật đã quả quyết cái thân này là thân tứ đại, là thân vô thường, là vô ngã không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Nó chỉ là một tổ hợp 5 duyên gọi là ngủ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) Khi một trong năm uẩn này hoại diệt thì cái thân sẽ tan rã.

Muốn thấy rõ cái thân này không phải của ta thì ta phải quán vô thường. Vì khi quán vô thường thì ta sẽ thấy được sự hoại diệt của từng bộ phận, cơ quan nội tạng theo thời gian mà ta không làm gì được cả. Ta không có quyền sai bảo cái thân này, mà hoàn toàn bị nó chi phối như khi bệnh thì nó tự nhiên bệnh, lúc hết thì nó hết, ta không thể sai bảo nó hết bệnh được.

b) Nghi kiết sử.

Là lòng nghi ngờ, ngờ vực và không tin. Nghi ngờ có nghi ngờ mình, nghi ngờ người và nghi ngờ pháp.

Khi nghi ngờ mình thì người đó không làm được việc gì cả, hay thối lui trước các khó khăn, không có lòng tin vào bản thân. Những người như vậy thì phải ở gần thiện hữu tri thức để được động viên, thúc đẩy tập làm những chuyện nhỏ trước. Có thành công những chuyện nhỏ thì nhiều chuyện nhỏ sẽ góp lại làm được chuyện lớn.

Khi nghi ngờ người khác là vì không có niềm tin vào người đó. Những người hay nghi ngờ người khác thường chấp vào tri kiến hiểu biết của mình, cho nên bình luận đánh giá người khác qua những hiểu biết đó, làm mất đi thiện hữu tri thức mà không biết. Khi tu mà nghi ngờ Thầy thì coi như tu hành vô ích. Người không nghi ngờ người khác là người có bản ngã thấp do đó học được cái hay của người khác và có nhiều thiện hữu tri thức.

Nghi ngờ pháp là khi gặp pháp dạy đơn giản, giản dị, giải thoát rõ ràng mà còn nghi ngờ. Ví dụ trong kinh Pháp cú có câu:

“Các ác pháp chớ làm,
Chỉ làm các pháp thiện,
Tự tâm ý thanh tịnh,
Đó là lời Phật dạy”.

Nếu ai làm theo câu này “ngăn ác diệt ác pháp, sanh trưởng tăng trưởng thiện” thì sẽ thấy giải thoát ngay.

Người nghi ngờ pháp thì không thể nào tu tập được, dẫn đến thối chí và mất đi đường tu.

c) Giới cấm thủ.

Phật dạy chúng ta có 18 giới: mắt thấy chiếc đồng hồ sanh ra một cái thức, khởi ra tâm ham muốn. Vì vậy gọi là giới cấm thủ. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức biết, sanh ra ham thích. Chính 18 chỗ này làm thành 18 sợi dây giới cấm thủ luôn trói buộc chúng ta. Thấy cái gì mà khởi ra ham muốn là nó đang trói buộc chúng ta.

d) Tham kiết sử.

Là lòng tham không đáy, vì lòng tham có sự trói buộc cho nên không dứt ra được, bị cột chặt vào đối tượng tham như tham của cải tài sản, đền khi chết mà vẫn còn luyến tiếc, không xã bỏ chia cho con cái, vẫn cất dấu…

Tham phước hữu lậu cũng là một tham kiết sử. Hy vọng vào tương lai sẽ sanh ra trong gia đình giàu có, cho nên đời này họ tìm mọi cách làm phước. Ai nói làm việc gì có phước là họ xông vào không mệt mỏi, không hối tiếc tài sản của mình.

e) Sân kiết sử.

Là cơn sân giận vào ai không dứt được. Khi gặp người đó là giận ngay, dù cho họ nói điều gì đúng hay sai cũng giận, và còn nói xấu về họ, lúc đó chỉ thấy cái sai của người đó thôi. Cái giận này đã biến thành hận và thù không tha thứ được.

Có một Bác già 70 tuổi mở một cửa hàng sửa máy nhỏ. Lúc đầu anh A thấy Bác làm một mình cho nên xin qua lại cửa hàng giúp Bác. Bác thấy thương cho nên nhận làm đệ tử dạy cho nghề sửa máy, cho cổ phần Cty 50-50, và khuyến khích anh ta học xong đại học. Sau đó họ cùng nhau mở thêm một cửa hàng nữa. Nhưng vì quá sức cho nên Bác rút lui để lại cho anh ta làm một mình. Do rút lui nên có sự chia chác tiền bạc không sòng phẳng cho nên anh ta giận Bác hoài, thường hay nói xấu Bác. Chỉ cần nghe một lời nào Bác nói anh ta cũng nghi ngờ và con thấy rằng không cách nào anh ta tha thứ cho Bác được. Đó là sân kiết sử.


2. Xã năm thượng phần kiết sử:

Năm thượng phần kiết sử gồm sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và vô minh. Thượng phần ở đây được hiểu là phần cao, phần vi tế. Vậy xã bỏ những sự trói buộc này là xã bỏ những trang thái vi tế của 5 phần trên.

a) Sắc ái.

Là những thương nhớ những hình ảnh trong hiện tại lảng vảng xung quanh ta. Như trước cảnh thấy Cha Mẹ già yếu bệnh hoạn hay cực nhọc. Chúng ta khởi niềm thương và bị dính chặt vào đó không nỡ lìa xa.

b) Vô sắc ái.

Là không hình sắc. Khi ngồi tu trong cốc mà khởi nghĩ đến cha mẹ hiện giờ đang cô đơn một mình, không ai chăm sóc. Rồi sanh ra lòng thương yêu, cảm xúc mạnh bật ra thành tiếng khóc. Sau đó thì chỉ muốn về bên cha mẹ để làm giảm đi cảnh lẻ loi đó. Cả hai tâm sắc ái và vô sắc ái đều là tâm ác ràng buộc con người với nhau, đó là nguyên nhân của sanh tử luân hồi. Nếu một người muốn thoát ra khỏi luân hồi thì phải biến tình thương yêu nhỏ mọn này cho tất cả mọi chúng sanh. Vì còn sống bên cạnh những người thân là ta còn cảm thấy đau khổ, và người thân đau khổ ta cũng không giúp ích gì được. Chỉ khi ta quyết chí tu hành giúp ta giải thoát khỏi đau khổ, rồi giúp cho mọi người thoát khổ trong đó có gia đình của ta thì ta đã sống đúng đạo đức nhân bản.

Ở đây tại sao gọi là tình thương ích kỷ, vì ta chỉ có cảm xúc thương yêu cha mẹ mình thôi. Thiệt ra nếu không ích kỷ thì ta thử nghĩ xem hiện tại có bao nhiêu người trên thế gian này đau khổ giống như cha mẹ ta và còn đau khổ hơn nữa. Nhiều nhiều lắm mà ta không khởi lòng thương thì khác gì lòng thương của ta hiện tại là ích kỷ chứ còn gì nữa.

Nếu biết thương mình thương người thì cố gắng tu tập. Nghĩa là ta đi tu là ta đang thương yêu mọi người. Vậy thì tại sao ta còn dính mặc vào những kiết sử này làm gì. Chúng nó là những tâm lý luận ác, ta phải đuổi chúng đi “Ái kiết sử là ác, hãy cút đi. Ngươi là tình thương ích kỷ. Nay ta đã biết có một tình thương bao la rộng lớn rồi thì nhà ngươi hãy cút đi. Ta đang tu là ta đang thương mọi người rồi thì cần gì phải đi đâu nữa.”

c) Mạn kiết sử.

Mạn là ngã mạn, kiêu mạn. Chấp vào mọi pháp là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Rồi so sánh với người khác. Ví dụ: thấy thân mình đẹp, khỏe, cao, thông minh,... hơn người khác. Chấp vào những thành quả do tu tập đạt được, thấy tâm mình giải thoát hơn người khác,... hoặc chấp vào những hiểu biết, những kinh nghiệm, xem chúng là của mình rồi so sánh thấy mình hiểu biết, có kinh nghiệm nhiều hơn người khác.

Mạn là so sánh. Khi có sự so sánh thì đã có ngã. Có chấp vào một cái mạn nào đó thì ta bị trói buộc vào đó. Mạn thì gồm có:

· Mạn: nghĩ mình hơn người. Mỗi người có một tài riêng chuyên về các lảnh vực khác nhau. Cho nên có phần thì ta giỏi hơn người, có phần thì người giỏi hơn mình. Người không mạn thì nên biết học hỏi những cái hay của người khác. Người đó hiểu rằng những hiểu biết hiện nay đang có là từ học hỏi, vay mượn từ sách vở hay của người khác và bất kỳ ai cũng vậy. Cho nên đừng bao giờ nghĩ mình hơn người, rồi khinh thường họ. Người không mạn thì sẵn sàng chia sẽ những gì mình biết, không dấu, không cho những hiểu biết đó là cao siêu. Mọi người đầu bình đẳng nhau.

· Ngã mạn: Ỷ mình giỏi hơn người mà lấn lướt người khác. Những người này bị người đời tránh xa, vì sống quá kiêu căng, tự cao, xem thường người khác. Thường họ ỷ mình có tiền, có danh, có tài sản, có hiểu biết nhiều, có bằng cấp cao mà không coi ai ra gì cả. Những người như vậy có tài mà không có đức thì chỉ là đồ bỏ thôi.

· Quá mạn: Mình bằng người mà cho là hơn người, người hơn mình mà cho là bằng. Những người này không bao giờ chịu thua người khác. Thường hay lý luận hơn thua, tìm cái sai của người khác, bắt bẻ, châm biếm, không biết nhường nhịn cho ai cả. Họ không bao giờ biết nhận cái sai của mình. Biết có những người như vậy thì tránh xa, ở gần chỉ thêm phiền phức, vì họ không bao giờ biết tôn trọng ai cả.

· Mạn quá mạn: người hơn mình nhiều mà cho mình hơn người. Những người này sống cô đơn vì không có bạn nào gần được.

· Tăng thượng mạn: chưa chứng thánh quả mà cho mình đã chứng.

· Ty liệt mạn: mình thua người nhiều mà nói mình thua ít.

· Tà mạn: người tu tập về tà mạn được chút thần thông biết đôi chút về quá khứ, vị lại rồi khinh lướt người khác xem trời đất không còn ai cả.

Muốn dẹp tâm ngã mạn thì phải biết xã bỏ những thứ gây ra tâm ngã mạn như tiền tài, vật chất, danh, sắc, hiểu biết, bằng cấp…Sống chỉ biết tùy thuận vào lời nói, ý kiến, yêu cầu và việc làm của người khác. Sống biết tôn trọng mọi người không phân biệt ai cả dù già hay trẻ, trai hay gái, có học hay không học, ông chủ hay đầy tớ, giàu hay nghèo, tôn giáo hay không tôn giáo, không phân biệt màu da, dân tộc…

d) Trạo cử.

Trạo cử là nó làm cho mình nghĩ ngợi cái này, nghĩ ngợi cái kia hoặc cái thân bị ngứa ngái không ngồi yên được, nó gãy bên đây, móc bên kia, thì gọi là trạo cử thân, còn trạo cử tâm thì nó nghĩ hết cái này rồi nghĩ đến cái khác, lung tung đủ thứ. Hoặc là mình ngồi chổ này một lát, mình đứng dậy đi, rồi ngồi lại, rồi mình đứng, rồi nằm, đủ cách, đó là bị trạo cử.

e) Vô minh.

Là những trói buộc tâm vào các trạng thái của buồn ngủ như hôn trầm thùy miên, hôn tịch, vô ký và ngoan không. Khi bị trói buộc vào các trạng thái này thì tâm mê mờ, không sáng suốt, dã dượi làm biếng, tham ngủ nhiều, tâm thụ động.

Để thoát ra các trạng thái này thì phải giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, tinh cần, tinh tấn tu tập, kiên trì chiến đấu với giặc ngủ.

3. Xả thất kiết sử:

Thất kiết sử gồm ái kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử và vô minh kiết sử.

Ở đây chỉ nói thêm về phần kiến kiết sử, còn những phần khác thì đã nằm trong năm hạ phần và năm thượng phần kiết sử được nói ở trên.

Kiến kiết sử.

Là sự chấp chặt vào kiến thức hay hiểu biết, có ba trường hợp.

· Kiến thủ vì ảnh hưởng tư tưởng của người khác. Đó là khi học hiểu những lý luận của người khác hay của sách báo, rồi chắp vào đó là có thật và tin vào nó. Như lúc xưa khi con đọc các sách về tử vi, bói toán, phong thủy thì tin vào đó là có thật, rồi đi nói với người này người kia về số mạng, nhà cửa của họ. Chính vì vậy mà làm hại bao nhiêu người. Sau này mới biết rõ ra là những sách đó không có căn cứ, chỉ là ảo tưởng thôi.

· Kiến thủ vì không ý thức được sai lầm của mình. Sự hiểu biết của mình còn nông cạn mà cứ cho là mình biết tất cả rồi suy luận rằng mọi việc là thường còn, mình nghĩ gì đều đúng không sai. Luôn bảo thủ ý kiến của mình, xem mình là giỏi, không biết nghe ý kiến của ai cả và khinh thường ý kiến của người khác, không thay đổi cho nên làm việc gì cũng thất bại, mà ngã mạn thì lớn dần chứ không biết mình sai. Sau này khi đọc được sách Phật mới hiểu ra nguyên nhân của bao thất bại đó là do cái ngã và không hiểu được luật vô thường của vạn vật.

· Kiến thủ vì tự ái hay vì ngoan cố cứng đầu. Biết mình sai mà cố tình không nhận là mình sai, do tự ái mà cứng đầu, cố chấp, không biết xấu hổ sửa sai, xin sám hối, không chịu từ bỏ hay xa lìa. Những người này thường là những người già lớn tuổi bị ảnh hưởng của phong tục tập quán cổ hủ, mê tính mà không thấy cái sai, không chịu bỏ xuống, không chịu học hỏi những cái hay, những cái thực tế. Như khi có người nhà bị bệnh thì rước các thầy bùa về đuổi tà đuổi ma, không nghe lời người khác chở đi bác sĩ hay bệnh viện.


(Bài này chỉ để tham khảo)