Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

ĐỪNG CỐ HỌC GIỎI Ở VIỆT NAM…

"Ăn thì phải no, học thì phải giỏi, yêu là phải cưới, cưới là phải sinh con, sinh con thì con cũng phải học giỏi, học giỏi là phải trường chuyên, trường chuyên nhưng còn phải lớp xịn, lớp xịn là phải đỗ đại học, đại học là phải top đầu, top đầu là phải… không thất nghiệp, và không thất nghiệp… rất có thể phải “chạy” – điều mà những người Giỏi thực sự không bao giờ làm. Bạn thấy đấy, rất nhiều nghịch lý luẩn quẩn hiện có trong xã hội của chúng ta đều ít nhiều liên quan đến một từ: GIỎI. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn nghĩ chúng ta chẳng nên cố bằng mọi giá để học quá giỏi? Dưới đây là 5 lý do mà bạn có thể sẽ cực kỳ “phản đối”!


1. Để học giỏi ở Việt Nam cần phải tốn quá nhiều thời gian cho việc học, học trên lớp, học ở nhà, học thêm, học phụ đạo… trong khi một ngày mãi mãi cũng chỉ có 24 giờ do đó, thời gian dành cho những thói quen lành mạnh như chơi thể thao, thư giãn rèn luyện thân thể không có nhiều và càng học lên cao càng bị cắt ngắn, dẫn đến nguy cơ lâu dài: sức khoẻ yếu. Sức khoẻ yếu, học giỏi vô nghĩa!


2. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải “học đều” – một khái niệm đặc sản nhưng không hề thơm ngon của nền giáo dục Việt Nam, tức là phải học giỏi tất cả các môn, đầu tư thời gian dàn trải để giỏi tất cả các môn đồng nghĩa là rất khó cho bạn để có chặng nghỉ nghĩ về những gì mình yêu thích nhất và có tiềm năng phát triển nhất. Rất nhiều học sinh giỏi cái gì cũng giỏi nhưng chẳng thật sự giỏi cái gì. Rất nhiều học sinh khi được hỏi “Em thích làm gì nhất?”, trả lời “Em không biết.” Một hành trang quá cồng kềnh và bị nhồi nhét chỉ làm cho cuộc hành trình của bạn thêm mệt mỏi. Hãy biết chọn lọc!


3. Để hoc giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải hấp thụ rất nhiều kiến thức bạn học xong không biết để làm gì? Không là kỹ sư, không theo nghiệp kỹ thuật, bạn sử dụng đạo hàm, sử dụng hàm số, sử dụng tích phân để làm gì...? Mà muốn sử dụng, bây giờ có vô số phần mềm và ứng dụng làm thay con người những tính toán đó. Bạn có định tự kéo cày trong khi nhà có trâu và có máy? Người ta hay nhắc bạn tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, nhưng không ai nhắc bạn tiết kiệm tài nguyên não của chính bạn.


4. Để học giỏi ở Việt Nam, ít nhiều bạn bị mất một chút tự do, và buộc phải là bản sao tư duy của ai đó. Nói đến Tấm là phải ngoan hiền, nói đến Cám là phải gian ác, trong khi bạn đang nghĩ đến điều ngược lại, nhưng không được đâu, cô không thích điều này! Bạn chưa hiểu, bạn cần học lại, học kỹ hơn, không được, lớp cần 90% học sinh giỏi, chỉ tiêu chỉ được 10% học sinh khá, và tuyệt nhiên không được ai ở lại lớp. Bạn cần phải là một bông hoa đẹp trong vườn hoa toàn Học sinh Giỏi của cả lớp, của trường, trong cánh rừng học sinh giỏi của Thành phố. Việc chấp nhận mất tự do tư duy từ nhỏ trong học đường làm cho bạn dễ chấp nhận hơn với việc mất tự do trong cuộc sống sau này.


5. Để học giỏi ở Việt Nam, cuộc sống của bạn rất dễ bị mẻ, bị nứt, bị lệch và rất có thể bị vỡ nữa. Bạn còn quá trẻ và non nớt, vì thế nên bạn cần đi học để trưởng thành lên theo năm tháng, nhưng bố mẹ và thầy cô luôn cần bạn phải là số 1, không được là số 2, nhất định phải là số 1, và họ thi nhau chất lên lưng bạn những áp lực nặng nề mà chính bạn cũng không thể biết được đâu là tới hạn. Đến khi bạn kém giao tiếp, ứng xử lúng túng, không biểu đạt ngay cả những gì mình muốn nói, không tự tin giữa đám đông chỉ vì ngoài giờ học bạn không còn người bạn thân nào hơn Facebook, Zalo và máy tính và điện thoại, không có thời gian để quan sát cuộc sống tươi đẹp xung quanh. Coi chừng! Rất có thể, đấy là cách những tờ giấy khen Học sinh giỏi âm thầm đánh cắp tuổi thơ của bạn.


Bố mẹ Việt đang nhầm lẫn tai hại giữa: học Tốt và học Giỏi, nhiều phụ huynh cứ có niềm tin mù quáng là con cứ học giỏi là chắc chắn là có vé đi ga "Tương Lai Hạnh Phúc" thế là cứ cố nhồi con học cho đến khi họ nhận ra sự thật bẽ bàng: học giỏi mà không hạnh phúc thì còn bất hạnh hơn học dốt mà biết cái gì là tốt.


Vấn đề không nằm ở Bộ Giáo dục, mà nằm ngay trong chính tâm thức mỗi ông bố bà mẹ: có dám để cho con mình học dốt - học theo đúng năng lực của mình hay không, hay sợ dư luận chê cười? Sợ đến chết!


Bên cạnh quyền được Khổ, quyền được Dốt cũng là một trong những quyền của học sinh đang bị phụ huynh Việt xâm phạm thô bạo.


Nếu con bạn là cây Tùng xin đừng trồng trong chậu, chăng đủ thứ đồ trang trí lên và gọi nó là cây Thông Noel"…!


HOÀNG HUY

#8saigon

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2023

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết

 Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết

Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

Bhikkhu Analayo (2017). Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts.

GIỚI THIỆU (NXB)

Bệnh tật và tử vong là những phần không thể phủ nhận của cuộc sống con người. Tuy nhiên, khi chúng xảy ra, tâm chúng ta dễ bị chấn động bất ngờ. Để chuẩn bị cho những sự kiện này, chúng ta cần phải học cách khéo léo đối diện với bệnh tật và cái chết. Một nguồn trí tuệ thực tế có thể tìm thấy trong những bài kinh ghi lại lời dạy của Đức Phật và các vị đệ tử. Mục đích chính của cuốn sách này là cung cấp một bộ sưu tập các đoạn kinh văn trích từ những bài thuyết giảng đầu tiên của Đức Phật, cung cấp các hướng dẫn để đối phó với bệnh tật và tử vong. Tuyển tập nầy tập trung vào chủ đề từ bi, và chú trọng đến “anukampa”: lòng bi mẫn như là động lực cơ bản trong hành động vị tha. Cuốn sách kết hợp các bản dịch tiếng Hán từ bản gốc tiếng Phạn Sanskrit, với các giới thiệu giải thích thông điệp cơ bản, làm rõ thuật ngữ và ý tưởng trong kinh văn, và từ đó rút ra một số ý nghĩa thực tiễn. 

GIỚI THIỆU (Tỳ-khưu Ānalayo)

Nguồn cảm hứng để biên soạn cuốn sách này là từ người bạn đạo và đồng nghiệp Aming Tu (Đỗ Chính Dân) ở Cổ Pháp Sơn (鼓法山 Dharma Drum Mountain), Đài Loan. Là một giáo sư về Tin học Phật giáo và một hành giả Thiền tông Đông độ, Aming Tu đã tìm thấy các bài kinh giảng về bệnh tật và cái chết trong các bộ A-hàm Hán tạng là một nguồn lực hỗ trợ to lớn khi phải chịu đựng sự suy thoái cơ thể của ông vì bệnh ung thư. Nhận thức được lợi ích ông có được từ những bài kinh nầy, ông ước muốn các lời giảng dạy đó được dịch và giải thích để phổ biến rộng rãi đến mọi người. Khi ông chia sẻ ý tưởng đó với tôi, tôi rất hoan hỷ làm theo và cuốn sách nầy là kết quả của kế hoạch mà chúng tôi cùng thực hiện. Trong Lời Bạt của cuốn sách, Aming Tu chia sẻ kinh nghiệm cá nhân, mô tả các phương cách ông tìm thấy từ các bài kinh trong bộ A-hàm Hán tạng để giúp ông đối diện với bệnh tật và cái chết. 
 

LỜI BẠT (Aming Tu, 杜正民 - Đỗ Chính Dân)

Lần đầu tiên khi tôi được chẩn đoán là bị bệnh ung thư và phải nhập viện, tôi bị sốc khi phát hiện ra rằng, trong số hàng ngàn cuốn sách mà tôi đã sưu tập, tôi không tìm thấy được một cuốn sách nào mà tôi có thể mang theo với tôi, vì mặc dù đã từng đọc vô số sách trong đời, không có một cuốn nào có thể đi cùng tôi trong cuộc hành trình cuối đời nầy. 

QUÀ TẶNG BẤT NGỜ
Vào cuối năm 2005, tôi đưa mẹ tôi đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe. Trong khi chờ đợi, tôi dùng cơ hội nầy để tiện thể xin kiểm tra luôn cho tôi. Ngay sau khi khám siêu âm, bác sĩ thấy có vấn đề trong lá gan. Ông lập tức đưa tôi vào phòng chụp hình cộng hưởng từ trường (MRI) và thu xếp cho tôi nhập viện. Tôi nhớ ngày tôi được chẩn đoán bị bệnh ung thư, tôi đi bộ đến núi Dương Minh (陽明山, Yangmingshan) như tôi vẫn thường làm, để ngắm hoa và ăn các loại rau cải địa phương; tôi vẫn thưởng thức một buổi trưa thanh thản, không cảm thấy buồn rầu. Sau đó, tôi nhanh chóng viết chúc thư và kết thúc mọi công việc để sửa soạn cho mười ngày nằm viện. 

Nằm ở bệnh viện cũng giống như đi tĩnh tâm; mình sống với chính mình và trải nghiệm với sự sống và chết. Tôi sẽ đi du lịch mười ngày với thân và tâm. Mang theo một túi xách nhỏ, tôi bước vào phòng bệnh viện và bắt đầu gặp gỡ với cuộc sống và bệnh tật của tôi. Từ cái nhìn nầy, đây là một cơ hội quý báu, tôi không còn có thể dùng sự bận rộn công việc như là một cái cớ để trốn tránh. Cuộc tĩnh tâm mười ngày nầy là một dịp may vô giá để tôi lắng đọng và kết nối trở lại với thân và tâm của tôi.

THÂN VÀ TÂM TRONG MƯỜI NGÀY NHẬP VIỆN TĨNH TÂM 
Bởi vì đây là lần đầu tiên tôi nhập viện, mọi việc đều mới lạ cho tôi, và các trải nghiệm ở đó hoàn toàn khác hẵn những gì quen thuộc hàng ngày. Mắt chỉ thấy người ta, sự kiện và những thứ liên quan đến bệnh tật; tai chỉ nghe những tiếng rên rỉ, than thở buồn rầu; mũi chỉ ngửi được mùi thuốc và mùi bệnh; lưỡi chỉ nếm các chất đắng và vô vị; và thân chỉ tiếp xúc với các bề mặt lạnh lẽo của thiết bị y tế hoặc cảm giác đâm chích của các mũi kim. Trải nghiệm tinh thần và thể xác của năm uẩn cấu tạo thân nầy – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – cũng rất lạ lùng và khó chịu.

Tôi chịu nhiều thống khổ trong thời gian đó, nhưng thử thách khổ sở nhất là cơn đau thể xác. Cơn đau nầy không cho tôi ngồi, nằm, hay ngủ và có khi làm tôi khó thở. Cảm giác nghẹt thở khi bị cơn đau khốc liệt hoành hành, không có chữ nghĩa nào có thể dùng để diễn tả cho bác sĩ hiểu. Sự đau đớn như thế nầy có lẽ tương tự như cơn đau mà ngài Khemaka đã diễn tả trong Tạp A-hàm: “Cơn đau nầy như thể người đồ tể dùng con dao bén rạch bụng một con bò còn sống để moi lấy nội tạng của nó. Làm sao con bò có thể chịu được những cơn đau nơi bụng như thế? Bụng của tôi bây giờ đang chịu đau đớn hơn cả bụng bò.”  Khi tôi đọc đoạn kinh nầy, tôi đã bị sốc vì không ngờ đoạn kinh đã diễn tả chính xác và sinh động về trạng thái đau đớn của tôi.

CƠN ĐAU LÀ MỘT CÔNG ÁN 
Kiểu đau không chịu nổi nầy khiến tôi tự hỏi: Có loại giảng dạy nào có thể giúp tôi vượt qua khổ đau mãnh liệt nầy? Ngoài cơn đau thể xác, tôi còn phải tìm cách đối diện với cảm giác bấp bênh bất định của cơn bệnh. Trên báo chí, ung thư thường được cho là sẽ đưa đến cái chết không thể tránh khỏi; và do đó, vấn đề về cái chết thường xuất hiện trong tâm trí tôi, mang theo nhiều âu lo. Có thể nói rằng cảm giác về đau và sự bất lực không thể nào được hiểu rõ bởi người quan sát mà chỉ biết đồng cảm.

Trong tình huống nầy, khi tôi tìm cách đối diện với cơn đau và cái chết, tôi bắt đầy suy ngẫm sâu xa hơn: Những lời dạy nào của Đức Phật mà tôi có thể nương tựa và được hướng dẫn cho phần còn lại của đời tôi? Đức Phật đã hướng dẫn người bệnh và người sắp chết như thế nào? Ngài dạy họ phải đối diện cái chết như thế nào? Những câu hỏi đó xoay vần trong tâm trí tôi như thể là một “thoại đầu” – một từ hay một câu để quán soi trong Thiền tông Đông độ, cũng thường được gọi là “công án”.

TÌM KIẾM CẢM HỨNG TỪ KINH ĐIỂN 
Sau khi rời bệnh viện, tôi bắt đầu khảo sát các bài kinh để tìm một phương pháp thực hành thích hợp cho người bệnh và người sắp chết. Cuối cùng, tôi tìm thấy một nhóm các bài kinh trong Tạp A-hàm ghi lại các lời giảng dạy của Đức Phật cho các vị đệ tử về các phương cách thực hành để đối diện với bệnh tật, đau đớn và cái chết. Những kinh văn nầy ghi lại phương cách Đức Phật dạy các đệ tử khi lâm trọng bệnh – bao gồm các vị trưởng lão và sa-di, cũng như các cư sĩ già lẫn trẻ. 

Khi tôi bắt đầu đọc các bài kinh đó, tôi rất ngạc nhiên khi khám phá ra rằng mặc dù các bài kinh đó có vẻ đáp ứng ngẫu nhiên về các tình huống đặc biệt, chúng ta có thể tìm thấy trong các bài kinh nầy một sự trình bày súc tích, gọn gàng, đơn giản, có hệ thống về sự thực hành và khuôn khổ các khái niệm. Càng đọc và phân tích nội dung các bài kinh, tôi càng hoan hỷ và tràn ngập niềm vui thích. 

Khi tôi đọc so sánh các bài kinh Pāli tương ứng, tôi cũng thấy nghiên cứu đối chiếu như thế nâng cao tầm hiểu biết về sự giảng dạy của Đức Phật và giúp tôi xác định cốt lõi thông điệp của Ngài. Sự nghiên cứu đó giúp tôi có thể diễn tả cấu trúc tổng thể của giáo pháp cũng như xác định các giai đoạn tuần tự của thực tập, cho thấy bộ sưu tập các bài kinh là một nguồn quý giá để thực hành. 

Trong những năm sau, khi phải nhập và xuất viện nhiều lần, các bài kinh nầy không những là bạn đồng hành quý báu để tôi đối mặt cơn bệnh mà tôi còn chia sẻ các bài đó đến những người chung quanh, ở trong lớp học với các sinh viện hay trong những lúc nói chuyện ngẫu nhiên với bạn bè. Tuy thế, có lẽ vì đa số chúng ta xem cái chết rất xa vời, những người tôi tiếp xúc đã không dành thì giờ để tìm hiểu sâu xa các bài kinh đó. Tôi cảm thấy như thể tôi đã thất bại không giúp được họ hiểu được tầm quan trọng của các lời giảng dạy nầy. Vì lý do đó, tôi quyết định sắp xếp các kinh văn thành một tập sách với hy vọng rằng, cùng với các cố gắng sơ bộ của tôi để phân tích và phân loại nội dung các bài kinh trong tay, tôi sẽ dễ dàng chia sẻ những lời dạy của Đức Phật đến những người ấy. 

CÂU CHUYỆN CỦA ÔNG CẤP CÔ ĐỘC 
Trong các bài kinh trong bộ sưu tập mà tôi đọc được, câu chuyện cảm động nhất là câu chuyện về ông Cấp Cô Độc. Ngài Ānanda và Sāriputta (Xá-lợi-phất) đến thăm ông khi nghe tin ông lâm bệnh nặng. Khi hai vị trưởng lão hỏi ông Cấp Cô Độc cảm thấy thế nào, vị gia chủ đáp: “Cơn đau bây giờ lên đến cực độ, con cảm thấy càng lúc càng gia tăng, không suy giảm.” Tiếp đó, ngài Sāriputta hướng dẫn giúp ông trực diện với cơn đau và cái chết. Sau khi nghe xong, ông Cấp Cô Độc rơi nước mắt; phản ứng đầy cảm xúc nầy được kích hoạt từ giáo pháp tuyệt vời do ngài Sāriputta giảng dạy. Thật vậy, ông Cấp Cô Độc đã thực hành Pháp hơn hai mươi năm và do đó, đã có thể can đảm đối phó với cơn đau càng lúc càng gia tăng. Tôi thật sự xúc động khi đọc đoạn kinh văn nầy. Nó cũng khiến tôi suy nghĩ: “Tôi đã học giáo pháp nhiều năm rồi, nhưng thật sự đã học được gì?”

Trong suốt hai mươi đến ba mươi năm nghiên cứu giáo lý, lĩnh vực nghiên cứu chính yếu của tôi là học các kinh văn và số hóa kinh điển Phật giáo. Tuy nhiên, cơn bệnh nầy đã đưa tôi trở về một câu hỏi căn bản: Cốt lõi của Phật pháp là gì? Có phải chăng vì thấy cảnh già, bệnh, chết mà Thái tử Sĩ-đạt-đa đã rời bỏ cung điện để đi tìm sự tự do thoát khỏi những hoạn khổ nầy?

Chỉ lúc đó, tôi mới thực sự hiểu được hai đoạn kinh văn sau đây: “Có ba sự kiện mà toàn thể thế gian không thích nghĩ đến. Ba sự kiện ấy là gì? Đó là già, bệnh và chết.” và “Chính vì có ba sự kiện trên đời người ta không thích nghĩ đến – đó là già, bệnh và chết, mà chư Phật, chư Như Lai xuất hiện trên thế gian và thế gian được biết đến giáo pháp đã được chư Phật, chư Như Lai thực chứng và truyền dạy cho chúng sinh.” Tôi hiểu sự tu tập và thực chứng nầy thật sự là cốt lõi của Phật Pháp. Một cách nào đó, bệnh tật nầy đã cho phép tôi tái khám phá lời dạy của Đức Phật.

CÁC BÀI KINH LÀ NHỮNG HỒ SƠ Y KHOA 
Lần đầu tiên tôi đọc các bài kinh giảng về bệnh tật, tôi cảm nhận mỗi bài kinh ngắn giống như hồ sơ bệnh lý thu gọn về “sự chữa trị” của bệnh nhân đang nhận giáo pháp. Trong thời gian nằm ở bệnh viện, tôi học được chút ít về cách các bác sĩ điền vào các mẫu thông tin về bệnh nhân để giúp tôi hiểu được tờ thông tin lịch sử y khoa của tôi. Tôi học được rằng các bác sĩ thường dùng khuôn mẫu SOAP khi tạo hồ sơ bệnh án cho mỗi bệnh nhân. SOAP là viết tắt của Subjective(chủ quan), Objective (khách quan), Assessment (thẩm định) và Plan (kế hoạch).

Về sau, tôi đã sử dụng mô hình SOAP nầy và tạo ra “mẫu đơn thông tin bệnh nhân” cho mỗi bài kinh về bệnh tật, với thông tin về bệnh nhân, thời gian và địa điểm thăm viếng của vị đạo sư, mô tả chủ quan về chứng bệnh của bệnh nhân, các triệu chứng quan sát được, toa thuốc trị bệnh, tiên lượng, v.v. Dùng phương pháp nầy để phân tích bài kinh giúp tôi xác định một bộ đầy đủ các pháp thực hành.

Theo kinh nghiệm của tôi, loại mô hình SOAP nầy, gần giống cấu trúc của Tứ Thánh Đế trong bài kinh mô tả Đức Phật như là một y sĩ, đặc biệt phù hợp với con người thời hiện đại. Bằng cách trình bày nội dung các bài kinh như thế, người bệnh, các bác sĩ và những người chăm sóc bệnh nhân có thể hiểu các kinh văn nầy qua một phương cách mới, giúp họ có cái nhìn tươi mới hơn về bệnh tật và cái chết. Sau khi sắp xếp, so sánh và phân tích nội dung của bộ sưu tập, tôi lập ra danh sách của những người sau đây có thể nhận được lợi lạc từ các lời dạy đó:

  • Bệnh nhân có thể dựa vào các bài kinh cho việc thực hành riêng của mình cũng như để tụng đọc;
  • Bác sĩ, người chăm sóc bệnh nhân và tu sĩ có thể dùng các bài kinh đó như là một cuốn sách tham khảo bổ sung khi tương tác với bệnh nhân;
  • Những ai còn khỏe mạnh có thể dùng các bài kinh đó như là những hướng dẫn hay khai triển dẫn nhập để thực hành hàng ngày, sửa soạn sẵn sàng đối diện với bệnh tật và cái chết.

Tóm lại, tôi tin rằng tuyển tập các bài kinh trong cuốn sách nầy đặc biệt thích hợp cho những ai có cuộc sống bận rộn và không có thì giờ để nghiên cứu sâu rộng tất cả các bài kinh. Như thế, bộ sưu tập nầy là tập sách đọc dẫn nhập rất tốt, cung cấp sự hướng dẫn quý giá để hành thiền như được trình bày trong đó.

Ý NGHĨ CUỐI CÙNG 
“Hôm nay là ngày cuối cùng trong đời tôi.” Từ khi bắt đầu bị bệnh, tôi dùng câu nói nầy như là một nguyên tắc hướng dẫn đời tôi. Tôi xem mỗi lớp học, mỗi cuộc hội họp, mỗi cuộc gặp gỡ và mỗi cuộc trò chuyện như là một buổi chia tay. Với thái độ đó, tâm trí tôi tràn ngập lòng biết ơn và trân quý sâu sắc từng khoảnh khắc. Mỗi buổi sáng giống như bắt đầu một đời sống mới: “Hôm nay là ngày đầu tiên của đời tôi.”

Đọc các bài kinh về bệnh tật sau một cuộc chạm trán gần với cái chết, tôi cảm thấy thật sự rất đáng tiếc rằng kho tàng quý báu đó từ lâu đã bị chôn sâu trong kinh điển Phật giáo. Rất ít người để ý đến các bài kinh đó và ít người hơn nữa đã thật sự sử dụng các bài kinh đó để làm hướng dẫn cho việc tu tập. Tôi tri ân ngài Tỳ-khưu Anālayo đã tận tâm phiên dịch tuyển tập các bài kinh và viết kèm theo những lời giải thích. Tôi rất hoan hỷ khi cầm được cuốn sách nầy trong tay, một cuốn sách có thể đi cùng với tôi trong cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời nầy.

- Aming Tu

Ghi thêm: Giáo sư Aming Tu qua đời vào tháng 11 năm 2016 (Bình Anson).


Xem đầy đủ tại đây: Sách Tỉnh Thức Trước Bệnh Tật Và Cái Chết 

NHỮNG Ý HAY CỦA SƯ GIÁC NGUYÊN

- Mọi hiện hữu trên đời đều là khổ. Còn một chút hiện hữu dù chỉ như một chút đất ở đầu móng tay thì còn phải đáng gờm nhớp, ghê sợ nó. 


- Ghét là khổ. Thích cái gì cũng đều là thích trong khổ. Muốn hết khổ thì đừng ghét và đừng thích nữa. 


- Chúng sinh dù sống trong hoàn cảnh nào thì cũng giống như ở trong một ngôi nhà đang bị cháy, dù chạy xuống (đọa) hay chạy lên (thăng) cũng đều không thoát khỏi ngôi nhà đó, trừ khi thoát ra khỏi nó bằng tu tập Bát Chánh Đạo. 


- Khi đã giác ngộ Tứ đế thì người ta chỉ muốn ngồi im chờ chết mà thôi.


Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2023

TÔI ĐỌC SÁCH


Tôi không phải là một người ham đọc theo kiểu mọt sách, nhưng sớm hình thành cho mình thói quen đọc sách từ bé. Ngày bắt đầu vào lớp 1, tôi đã thích đọc những bài tập đọc trong sách giáo khoa, đọc với niềm yêu thích thật sự, chứ không phải bắt buộc, không phải vì học thuộc lòng.


Lên cấp hai tôi bắt đầu đọc báo và sang cấp ba tôi tìm đọc các cuốn tiểu thuyết tình yêu. Cuối năm lớp 9 tôi bắt đầu tập viết truyện ngắn và tập làm thơ. Hồi đó tôi chủ yếu viết về tình bạn trong sáng hồn nhiên, cùng chút tình yêu tuổi học trò mơ mộng. Những cuốn vở mới với những câu chuyện dở dang, viết xong thì đem cất dấu kỹ, vì ngại không dám cho ai đọc. 


Rồi lúc đi lính tôi vẫn giữ thói quen đọc sách đều đặn. Những lúc rảnh rỗi tôi thường lên Thư viện Quân Đoàn để tìm báo, tạp chí, truyện ngắn để đọc cho đỡ buồn, cũng là để cập nhật thông tin thời sự. Cũng thời gian này tôi làm thơ khá nhiều, khoảng 5 chục bài được viết xong lúc còn tại ngũ. Nội dung các bài thơ lúc đó chủ yếu là viết cho cô bạn gái thời học sinh cùng những suy tư về cuộc đời, về số phận con người. 


Tôi còn nhớ có bài thơ viết lên nỗi buồn của một chàng trai chính là tôi với bao khát vọng, nhưng phải giam cầm trong bốn bức tường của trạm gác vô tuyến nơi cao nguyên lộng gió. Trong khi đó bạn bè đang ngồi trên giảng đường các trường đại học. Lúc xuất ngũ tôi đã tập hợp thành một tập thơ, những dòng chữ viết tay được nắn nót rất đẹp, được đóng thành tập và trang trí khá chuyên nghiệp. Thật tiếc là về sau tôi để thất lạc mất, và sau đó tôi cũng quên sạch những gì mình đã viết ra. 


Sau này khi vào Sài Gòn làm công việc tự do, tôi vẫn giữ thói quen đọc sách, những ngày Chủ nhật vẫn đều đặn đi đến các nhà sách lớn ở các quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình… để tìm đọc. Thời gian này tôi chủ yếu đọc các sách tâm lý, sách hội họa. Rồi khi đi học sư phạm tôi vẫn thường lên thư viện tìm sách báo, tạp chí để đọc và cập nhật thông tin. Quãng thời gian sau này khi mới vào làm giáo viên, tôi ít đọc hơn nhưng vẫn không bỏ thói quen đọc. 


Cho đến năm 2009, khi nhà tôi nối mạng internet thì tôi có điều kiện đọc nhiều hơn, tôi đọc nhiều thể loại nhưng chủ yếu là sách tâm lý, sách khoa học và một ít sách văn chương, tiểu thuyết… 


Có lẽ thời gian tôi đọc nhiều nhất là từ năm 2013 đến nay, ước chừng có năm tôi đọc lên đến khoảng 2 vạn trang giấy, tôi không nói nhầm đâu, khoảng 20 ngàn trang giấy, tương đương với khoảng 100 cuốn sách dày mỏng khác nhau. Và thời gian về sau này tôi chủ yếu tập trung đọc sách về Phật giáo và khoa học tâm lý, đó là các sách của Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ các cuốn kinh Nguyên thủy, sách của Trưởng lão Thích Thông Lạc viết ra từ sự thực tu, thực chứng của mình, sách của các tác giả gốc Do Thái nổi tiếng chuyên nghiên cứu về lịch sử nhân loại, vân vân... 


Tôi đọc như một con nghiện sách và dần dà tôi hình thành kỹ năng nắm được nội dung các cuốn sách rất nhanh. Kỷ lục là cuốn Muôn Kiếp Nhân Sinh tập 1, sách dày hơn bốn trăm trang mà tôi chỉ đọc trong vòng khoảng 10 tiếng đồng hồ, tất nhiên là tôi nắm được nội dung từ đầu đến cuối chứ không phải chỉ đọc lướt qua. 


Với việc đọc sách như vậy nhưng cuối cùng tôi nhận ra rằng, đọc sách nhiều là rất tốt, nhưng đồng thời cũng... rất tệ. Tốt là sách đã mở ra cho tôi cả thế giới tri thức và trí tuệ từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Nếu không có sách thì chắc là tôi cũng không hơn gì con bò đâu, thật đấy. Tệ là bởi đọc sách quá nhiều nên bây giờ tôi như một người bước ra từ một thế giới khác hẳn với mọi người ấy, thậm chí tôi giống như bị hoang tưởng vậy. 


Chốt lại, cái gì quá nhiều cũng không tốt, kể cả việc đọc sách. 


Minh Bảo


Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2022

ĐIỀU CÒN LẠI CUỐI CÙNG

Cả một đời kiếm tìm, vật lộn, bon chen, tranh dành với đời… Cuối cùng ta còn lại gì? 

Một tấm thân tàn tạ, rệu rã, chờ ngày trả về cát bụi. Một tâm hồn đầy những dục vọng, khát ái, oán trách cuộc đời bạc bẽo, oán trách thời gian phủ phàng...


Cả một đời học Phật, cuối cùng còn lại gì? 


Vô thường – Vô ngã – Khổ – Không. 

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

THI HỌC SINH GIỎI CHO AI?

 THI HỌC SINH GIỎI CHO AI?



Câu hỏi này có vẻ thừa, vì không cho học trò thì còn cho ai! Nhưng sự thể nhiều khi không đơn giản như thế, “nói vậy mà không phải vậy”.


Chúng ta phải trả lời mấy câu hỏi sau: (1) Ai là người tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi và nhằm mục đích gì? (2) Ai là người được lợi nhiều nhất từ những giải học sinh giỏi ấy? (3) Ai là người khao khát mãnh liệt nhất những cái giải học sinh giỏi kia? 


Tổ chức, tất nhiên rồi, là các cơ sở giáo dục cho đến các cấp quản lý giáo dục. Để làm gì? Thoạt tiên, là để làm cơ sở đánh giá chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, theo thời gian, mục đích ấy dần bị thay thế và thay thế hoàn toàn bằng một cuộc chạy đua thành tích khốc liệt. Thi không còn là để đo đếm kết quả của quá trình giáo dục nữa mà bị biến thành nơi để tạo ra kết quả. Thi cử không thể để tạo ra kết quả, nếu có, nó sẽ là những trái cây chín ép, là những thành tích ảo do thực hiện tổng lực các biện pháp ôn luyện, nhồi nhét, thậm chí chạy điểm, chạy đề…


Đánh giá chất lượng giáo dục phải được thực hiện thường xuyên với một cách thức phong phú trong suốt quá trình học. Từ đánh giá trong nội bộ hệ thống giáo dục và đánh giá ngoài – là những phẩm chất và năng lực mà người học sở đắc được, rồi mang vào đời sống, như chính con người họ, chứ không phải chỉ là những con số nằm trên tờ giấy thi, và chấm hết.


Thi cử trong giáo dục không thể quan niệm như một trận bóng đá hay một trận boxing để tìm kiếm nhà vô địch. Không ai trong những nền giáo dục tiến bộ còn quan niệm rằng, kết quả của một lần thi sẽ dán lên học trò một cái nhãn là giỏi/dốt suốt đời. Dùng một kỳ thi để kết luận năng lực của một người học là cách tốt nhất để gây ra niềm tự hào giả tạo hoặc lòng tự ti vô cớ. Và nó sẽ lấy mất cơ hội hoàn thiện của mỗi người bằng việc ban ra một cái giấy chứng nhận. Các cấp quản lý giáo dục, vì thế, cần thay đổi tư duy đánh giá, chuyển từ cách đánh giá cũ kỹ, lạc hậu sang đánh giá một cách khoa học và mang tính giáo dục thật sự.


Một phương cách đánh giá chất lượng bằng các kỳ thi như lâu nay, tất dẫn đến những chạy đua thành tích. Vì thành tích lúc này đồng với danh dự, đồng với năng lực, đồng với phẩm chất, và đồng với sự sống còn của các cá nhân có liên quan hữu cơ: giám đốc sở, trưởng phòng, hiệu trưởng, giáo viên, học sinh… Cấp càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Và cái trách nhiệm ấy được bổ đều xuống các cấp thấp hơn. Cứ thế, chúng dồn hết lên đầu những “người lính” trực tiếp ra trận: là học sinh.

*

Như thế, áp lực lớn nhất và cuối cùng là học sinh, vì các em phải gánh toàn bộ cái gánh nặng khủng khiếp trên vai – gánh giám đốc sở, gánh trưởng phòng, gánh thầy cô giáo, thậm chí gánh cả gia đình, họ tộc, làng xóm.


Đó là một sức nén tâm lý ghê gớm có thể phá hủy thế giới tinh thần lành mạnh của người học. Khi một học sinh của chúng tôi trượt trong kỳ thi Olimpic 30/4 ở phía Nam, em ấy đã bỏ ăn nhiều ngày và tự nhốt mình trong phòng, không tiếp xức với bất kỳ ai… Đó là một hiện tượng quái dị trong nền giáo dục: biến một trải nghiệm tri thức trong quá trình trưởng thành thành một cuộc đấu thành bại, sinh tử. Và thực tế, không ít lần chúng ta đã phải đau đớn chứng kiến những cái chết thương tâm của tuổi hoa ngay trên sân trường của các em bằng một cú nhảy lầu oan nghiệt sau một kỳ thi “thất bại”.

*

Áp lực lớn nhất thì học sinh gánh chịu, nhưng lợi thì ai hưởng? Tất nhiên không phải là các em! Học sinh đoạt giải, ngoài một chiếc giấy khen và chút tiền thưởng tượng trưng thì phần còn lại chủ yếu là một cái danh. Chỉ có thế. Những ưu đãi dành cho học sinh giỏi quốc gia cũng thu hẹp dần: không được tuyển thẳng vào các trường lớn như trước nữa.


Khi một trường có nhiều giải học sinh giỏi, đặc biệt là học sinh giỏi quốc gia thì hiệu trưởng của trường ấy sẽ ưỡn ngực bước đi. Đó là danh hiệu một nhà quản lý giáo dục đại tài, một chiến lược gia tầm cỡ, một người mẫn cán và làm nên kỳ tích. Người ấy sẽ được trọng dụng, ưu ái, được cất nhắc…; bằng không thì sự nghiệp lẹt đẹt.


Chính vì thế, việc hiệu trưởng dành tổng lực cho các giải học sinh giỏi là điều bình thường và gần như tất yếu, từ nhân lực, tài chính, thời gian đến quan hệ. Nó gây ra một không khí căng thẳng trong môi trường sư phạm bởi những sức ép, bởi sự dọa nạt, bởi hăm dọa thi đua. Nó biến trường học và các trường học thành một cuộc chiến trường kỳ mà tất cả đều là “chiến sĩ” buộc phải “tham chiến” để mang thành tích về cho trường (mà thực chất là cho hiệu trưởng).


Hiệu trưởng không phải là người trực tiếp dạy học, tất cả quá trình “nấu sử sôi kinh” đầy áp lực và khổ nhọc kia là của thầy cô và học trò đội tuyển. Nhưng cái mà họ nhận được chỉ là một cảm giác an toàn và nhiều ảo ảnh nếu (không thất bại); bao nhiêu thành tích đều nhờ sự lãnh đạo tài tình của hiệu trưởng! Đó là một sự bất công, cái bất công không mang lại ý nghĩa gì cho sự tiến bộ của giáo dục nước nhà, mà chỉ mang tới danh lợi cho một thiểu số làm công tác quản lý.

*

Chỉ khi nào không dùng kết quả các kỳ thi học sinh giỏi để làm thước đo giáo dục nữa thì những vấn nạn trên mới bị phá bỏ. Cởi trói cho giáo dục, trước tiên là phải cởi trói khỏi các kỳ thi nặng bệnh thành tích có tính dán nhãn này.

Người ta giỏi là vì học, chứ không phải vì thi. Mà cái học ấy phải là học bởi động cơ yêu thích, đam mê; học bởi sự kích thích của tư duy phản biện và ý thức tìm kiếm sự thật, chứ không phải bởi những cái giải đầy áp lực bị động. Một sự vẫy gọi từ những cái giải như thế chỉ khiến con người tăng trưởng lòng tham, sự háo danh và nỗi sợ hãi. Nó gián tiếp hủy hoại lòng hiếu tri và sự trong sáng của tình yêu tri thức.


Những kỳ thi như đã và đang được tiến hành, đáng lo thay, ngày càng đưa con người xa rời mục đích chân chính của giáo dục: là hoàn thiện nhân cách. 


Và, nó không thể được tiếp tục!


THÁI HẠO

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

KHI TRONG NHÀ CÓ NGƯỜI MẤT

TRONG NHÀ CÓ NGƯỜI CHẾT, CHÚNG TA CẦN PHẢI HIỂU VÀ ÁP DỤNG, NHƯ THẾ NÀO, CHO ĐÚNG LỜI PHẬT DẠY:


Khi đã hiểu rõ Phật pháp, như lời Phật đã dạy, nếu trong nhà có người chết, chúng ta hãy làm lễ an táng đơn giản, không kèn, không trống, không thầy chùa tụng kinh, niệm Phật, cũng không ai hộ niệm cho ai cả. Hãy tiếp tay với gia đình có người chết, đồng lo chôn cất hoặc thiêu đốt càng sớm càng tốt, để lâu mùi hơi hôi thúi làm mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường sống của con người.


Khi trong nhà có người chết, ta nên tổ chức đám ma âm thầm, lặng lẽ, để hồi tưởng lại những công ơn, khi người còn sống. Việc ma chay cần phải bỏ bớt, đơn giản, để người sống khỏi lo lắng nhiều, những việc cúng bái có tính cách mê tín, dị đoan thì cần dẹp sạch, cốt sao cho giản dị nhất, khi đám tang xong không nợ nần ai hết.


Tẩm liệm thây người chết đừng cột bó như đòn bánh Tét. Hãy để người chết nằm trong quan tài như người nằm ngủ, phủ vải lại nhẹ nhàng, đừng chèn nhét rơm rạ như ép dầu, rồi đậy nắp áo quan lại một cách giản dị, tự nhiên, v.v... Bạn bè, thân quyến đến phúng điếu chia buồn, chẳng nên làm ầm ĩ, đánh trống thổi kèn làm mất vẻ trang nghiêm, thanh tịnh, không đúng cách đám ma, mà còn làm hao tốn tiền bạc vô ích.


Một đám tang trong âm thầm, lặng lẽ, trang nghiêm có ý nghĩa của sự chết hơn là một đám tang ầm ĩ kèn trống, tiếng hò hét, tụng niệm giọng cao, giọng thấp trầm bổng như ca, ngâm, vịnh, hát. Thể hiện những điều này không đúng cách đám ma, mà là một đám hát, một trò chơi của những người không có sự ưu sầu. Vì người chết không thể sống lại được, dù để bao lâu cũng không sống, tốt hơn ta nên an táng sớm chừng nào tốt chừng nấy, để giữ vệ sinh chung cho mọi người, nhất là những người thân trong gia đình, và còn lo những việc khác nữa. Phật dạy, thân người bất tịnh hôi thúi, do bốn đại: đất, nước, gió, lửa hợp thành, nên khi chết đất, nước, gió, lửa tan rã, đất trở về đất, nước trở về nước, gió trở về gió, lửa trở về lửa; thọ, tưởng, hành, thức thì tan biến theo nghiệp lực nhân quả, người chết chẳng còn một chút xíu nào cả.


TL Thích Thông Lạc

Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022

TÂM THƯ

KÍNH GỬI MỌI NGƯỜI


Xin phép được dấu tên, hãy xem như tôi là một người vô danh. 


Cả cuộc đời tôi luôn cố gắng sống không làm phiền, làm khổ đến bất cứ ai. Tôi cũng không muốn làm phiền đến những người thân và làng xóm về cái chết của mình. Do vậy tôi chọn cách rời khỏi quê hương ra đi đến một nơi hoàn toàn xa lạ, nơi không có bất cứ ai để chấm dứt cuộc đời chỉ toàn cay đắng, tủi nhục, khổ đau của mình trên trần gian này. 


Hiện giờ tôi là một người vô gia cư, không gia đình, không người thân, không bạn bè, không còn nơi để trở về nữa. Và tôi biết rằng nơi nào tôi nằm xuống chính là nơi có duyên nợ trong tiền kiếp với tôi. Vì vậy xin mọi người hãy hoan hỉ chôn tôi ở đây và không cần phải có áo quan, nhang khói... Xin đừng điều tra về nguyên nhân cái chết của tôi cũng như lai lịch của tôi nữa.


Xin ngàn lần tri ân công đức của mọi người!


🙏🙏🙏


------------------------------

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2021

Khi một đứa trẻ ăn cắp, tất cả chúng ta đều có tội.

Bài viết của Thầy Thái Hạo

Khi một đứa trẻ ăn cắp, tất cả chúng ta đều có tội.
Những người điều hành Nền kinh tế có tội; Hệ thống an sinh có tội, Giáo dục có tội, Văn hóa có tội…, và chúng ta có tội.
Không ai bênh vực cho việc ăn cắp cả, nhưng việc tập trung mổ xẻ để tỏ ra sáng suốt trong trường hợp này thì chỉ chứng tỏ sự thiển cận. Tôi từng đọc một câu chuyện về phiên tòa ở Mỹ xử một đứa trẻ ăn cắp bánh mì. Kết thúc phiên tòa, tất cả mọi người có mặt trong phòng xử án đều bị phạt 10 đô la vì đã…gây ra tội ác là khiến đứa trẻ phải ăn cắp.
Ăn cắp một chiếc váy thì tất nhiên không giống với ăn cắp bánh mì, nhưng hãy đặt mình vào một thiếu nữ 16 tuổi ở thời đại này, trong đất nước này, lúc ấy bạn sẽ thấy chiếc váy nhiều khi quan trọng không kém bánh mì đâu. Cái nghèo và sự mặc cảm thấp kém giày vò con người ta có khi còn khủng khiếp hơn là một cơn đói. Đừng kẻ cả khi bạn chưa bao giờ thiếu tiền để mua một chiếc váy 160k hoặc đã quên đi điều đó trong quá khứ.
Hành vi của chủ cửa hàng thì có lẽ không cần bình luận nữa, nhất là nó lại diễn ra sau khi đứa bé đã quay lại xin lỗi. Đó không những là cái ác mà còn là lòng tham đến tàn bạo.
Trong môi trường nội trú, tôi đã nhìn thấy trong những ánh mắt của không ít em học sinh một nỗi mặc cảm, tự ti, khổ sở vì gia đình quá nghèo. Cháy bỏng trong các em là được bằng bạn bằng bè, là có được những bộ áo quần và váy xống như các bạn. Và tôi đã thấy sự ăn cắp trong ký túc xá, đa phần những vụ trộm ấy là từ những đứa trẻ nghèo.
Chúng ta đã làm ra một xã hội đổ vỡ giá trị, chúng ta lấy vật chất và hình thức bên ngoài để làm thước đo, chúng ta đánh đồng nó với giá trị một con người. Và thế là nó trở thành khí quyển của xã hội này. Nó quấn riết lấy tất cả, cả chúng ta, chứ không riêng gì đứa trẻ kia. Cứ tự nhìn lại xem chúng ta đang chạy theo cái gì thì rõ.
Chúng ta cho mình cái quyền phán xét như thể mình vô can và cao đạo.
Những đứa trẻ phải được bảo vệ, không phải bằng cách bênh vực hành vi ăn cắp của chúng; mà bằng giáo dục, bằng văn hóa, bằng môi trường sống lành mạnh với những chân giá trị được chính chúng ta giữ gìn và vun đắp.
Khi chúng ta để những kẻ cắp hiên ngang đi vào hệ thống điều hành và phá nát quốc gia này, phá nát núi rừng, khai thác cạn kiệt tài nguyên, đầu độc nguồn nước và mặc sức tung hoành như phường lục lâm thảo khấu thì bất công sẽ ngày càng lớn, và ăn cắp sẽ trở thành phổ biến. Khi một nhóm người ăn cướp để làm giàu thì đa số còn lại sẽ phải ăn cắp để sống.
Khi một đứa trẻ trên đất nước này ăn cắp, nếu cảm giác đầu tiên khởi lên trong chúng ta không phải là tự xấu hổ, thì ta tiêu rồi.
Thái Hạo

GIẢI THÍCH SƠ LƯỢC VỀ 7 GIÁC CHI

 GIẢI THÍCH SƠ LƯỢC VỀ 7 GIÁC CHI

(Trưởng lão trả lời cho Sư Từ Quang)

 

Nếu mình không hiểu rõ đức Phật thì mình sẽ tu sai. Nghe nói bảy Giác Chi thì phải hiểu pháp này là pháp rất quan trọng bởi vì nó có cái phương pháp và đồng thời nó có cái năng lực, vì vậy nó có tên là Bồ Đề. Nó giải thoát thì phải có năng lực. Nếu nó không có năng lực thì nó không giải thoát.

 

Thí dụ bây giờ con nhiếp tâm, con an trú được, nghĩa là con chỉ an trú trong một phút thôi, một giây thôi thì bảy Giác Chi cũng xuất hiện tại chỗ đó con mới có an trú, bằng không thì con chưa an trú được. Không an trú thì không bao giờ có 7 Giác Chi. Mà cùng lúc nó có đủ cả 7 Giác Chi chứ không phải một Giác Chi. Con nghe được khinh an chứ thật ra nó có đủ 7 Giác Chi vào lúc đó; nó có Tinh tấn Giác Chi, Khinh an Giác Chi, Hỉ Giác Chi, Niệm Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi.

 

Khi con nhận ra Khinh An thì nó làm cho con thích thú siêng năng tức Tinh Tấn Giác Chi, còn các phần Xả Giác Chi, phần Niệm Giác Chi, phần Định Giác Chi thì con thấy được rồi. Thí dụ con ngồi thấy hít thở vô ra nhẹ nhàng thì đó là Niệm của con, con đã tu được Niệm Giác Chi rồi; khi cái tâm bám vào trong, con không còn lưu ý ra ngoài thì đó là Định Giác Chi đó. Trong vấn đề Định không phải chỉ nói riêng về bốn Thánh Định, bốn Thánh Định là Chánh Định, còn ở trên bốn Niệm Xứ là Chánh Niệm nhưng mà Chánh Niệm vẫn có Định cho nên đức Phật nói Định Niệm Hơi Thở, Định Vô Lậu.... Con quán như khi có một lời nói nào làm phiền não, cơn sân khởi lên, con quán cho hạ cơn sân xuống thì đó là Định đó, nó là Định Giác Chi, nhờ có nó thực hiện mới phá cái si được.

 

Cho nên 7 Giác Chi liên tục xuất hiện, nó có năng lực mặc dù rất nhỏ, tu càng cao thì năng lực càng lớn. Nhưng mà mới vô đầu thì con cũng phải Trạch Pháp Giác Chi kìa. Con phải chọn pháp mà tu chứ; trạch pháp là chọn lựa cái pháp. Trạch rồi mới tới Niệm. Muốn tác ý câu gì thì con đã phải chọn nó, chọn là trạch pháp. Con tác ý ra là con Niệm câu đó, tác ý là Niệm Giác Chi. Niệm Giác Chi thành tựu thì nó sẽ khinh an, là Khinh An Giác Chi, có khinh an thì có ngay Hỉ Giác Chi. Như vậy nó kéo nhau ra liên tục 7 Giác Chi, nhưng Trạch Pháp Giác Chi sẽ có cái lực chỉ khi nào ta viên mãn đầy đủ chừng đó nó mới trở thành cái lực thật sự để xuất hiện cái Định Giác Chi. Đây không phải là Tứ Thánh Định, đây chỉ là Định Giác Chi nằm trong nhóm của Định Vô Lậu, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

 

Sự thật, đức Phật dùng chữ Định có nghĩa rộng rãi lắm, nhưng tới cái định tướng, cái định thuộc thân định thì nó khác rồi. Bắt đầu vô Chánh Định thì nó có định đầu tiên là Định Sơ Thiền là định của tâm li dục li ác pháp, là định của tâm “do li dục sanh hỉ lạc”. Qua Định Nhị Thiền thì định thuộc về thân, nó thuộc về thân định cho nên mới nói do định sanh hỉ lạc, “diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền do định sanh hỉ lạc”, không còn do li dục nữa. Từ Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền là định của thân cho nên mới từ cái này để lần lượt tịnh chỉ các hành cho thân bất động. Tới Tứ Thiền tịnh chỉ hơi thở là hết giai đoạn Định mới qua giai đoạn Tuệ, đó là 3 Minh: Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh và Lậu Tận Minh. Bắt đầu từ đây mới gọi là Tuệ. Do đó mình mới thấy rõ phần trước là Định trong Chánh Niệm, định trên niệm cho nên mình nhiếp tâm trên cái niệm, chứ không phải Định trong Định. Cái tâm mình an ổn là định, hay là định tỉnh. Con cần phân biệt rõ để khỏi lẫn lộn định này ra định kia, phải thông suốt đây là Thiền Định, đây là Định Tỉnh, đừng để lộn xộn.

 

Còn 7 Giác Chi thì đừng có hiểu tôi phải tu cho tới cuối cùng mới hiện ra 7 Giác Chi. Không phải vậy, hễ con vô tu 1 giờ thì có 7 Giác Chi một 

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

Thư của nhà giáo Mạc Văn Trang gửi Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn

 Ngày 8/12/2021

 

KÍNH GỬI BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO 

 

Thưa Bộ Trưởng NGUYỄN KIM SƠN,

 

Tôi là Mạc Văn Trang, nhà giáo, 84 tuổi. Tôi đi dạy học từ lúc 22 tuổi, rồi sau này vừa học, vừa nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn Nghiên cứu sinh cho đến 80 tuổi. Cả một đời yêu nghề, gắn bó với giáo dục. Giờ đây vẫn rất trăn trở với nhiều chuyện của Ngành ta. Trong Thư này, tôi chỉ xin thưa với Bộ trưởng về vấn đề GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG.

 

1. Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục

Ngày xưa, các ông Đồ, các Thầy dạy tư có khi chả biết Bộ giáo dục là gì, tự họ dạy học trò nên người, người dân tin tưởng gửi con đến nhờ các Thầy dạy dỗ. Thời phong kiến, thực dân, thời Việt Nam Cộng hòa, người Thầy giáo vừa được trọng vọng vừa có lương bổng nuôi sống cả vợ con.

 

Thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ 1954 đến 1960, các giáo viên “Lưu dung" từ chế độ cũ vẫn được trọng dụng, hưởng nguyên lương như trước, cao gấp 2 - 3 lần giáo viên “cách mạng". Từ năm 1961 tiến lên CNXH, rồi sau đó chiến tranh, đời sống dân miền Bắc vô cùng khó khăn, nhưng nền giáo dục XHCN cùng với Y tế luôn được coi là “Hai Bông hoa” đáng tự hào của chế độ. 

 

Tất cả những giai đoạn nêu trên, Nhà trường và Thầy giáo luôn có vị trí được xã hội tôn kính. Chính quyền, nhất là cấp Xã/ Phường không có chuyện can thiệp thô bạo vào nhà trường hay vô lễ với các Thầy, Cô giáo.

 

Từ những năm 1961 - 1962 tôi làm Hiệu trưởng trường cấp 2; lúc đó không có chuyện Chủ tịch, Bí thư xã đến “huấn thị" cho nhà trường. Họ lên phát biểu chỉ cảm ơn các Thầy, Cô và mong các Thầy, Cô thông cảm, địa phương còn nhiều khó khăn, chưa chăm sóc được cho nhà trường đầy đủ… Khi một giáo viên có chuyện gì, Công an báo cáo với Hiệu trưởng để xem xét giải quyết và thông báo cho họ…

 

Các giáo viên dù được đào tạo Chính quy hay Hàm thụ, khi đã tốt nghiệp đi dạy, không ai phân biệt, và như vậy đã ĐỦ ĐIỀU KIỆN để làm giáo viên. Việc đánh giá giáo viên chỉ có học sinh, đồng nghiệp, cha mẹ học sinh đánh giá là chính xác; cho nên mỗi giáo viên không ngừng TỰ học hỏi, trau dồi nghề nghiệp để mình xứng đáng làm Thầy, để có uy tín…

 

Càng yêu cầu cao với người giáo viên thì càng phải tôn trọng họ cao hơn và tạo điều kiện để họ sống đàng hoàng, xứng đáng với vị trí người Thầy…

 

Phải biết trân trọng lao động của Giáo viên và tôn trọng Nhân cách người Thầy, vì họ là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục.

 

Khi các cơ quan quản lý phình to, quan liêu, hống hách, còn vị trí Nhà trường và người giáo viên nhỏ bé đi thì hỏng rồi! Nên nhớ từ những năm 1960 người giáo viên “có giá" lắm, “coi thường" các cơ quan quản lý, không giáo viên giỏi nào chịu về các cơ quan quản lý, vì bị “mất dạy"! Lúc đó anh em giáo viên bông đùa: “Ho lao thối phổi về Ty/ Tham ô, hủ hoá thì đi về Phòng/ Những người già lão có công/ Thì đưa về Bộ cho xong cuộc đời”! Người giáo viên đàng hoàng, tự tin lắm, không phải xun xoe, khúm núm trước các cơ quan quản lý.

 

Hãy hình dung Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục “tự nhiên biến mất", nhưng nhà trường còn, giáo viên còn, thì mọi hoạt động giáo dục vẫn diễn ra như thường!

 

Vậy thì Bộ, Sở, Phòng giáo dục sinh ra để làm gì? Để phục vụ giáo viên thực hiện tốt nhất sứ mệnh thiêng liêng của mình. Cục Nhà giáo sinh ra là để chăm lo cho các Nhà giáo lao động nhẹ nhàng hơn mà hiệu quả hơn; Chế độ, chính sách lương bổng, đời sống giáo viên ngày càng cải thiện, sung sướng hơn, để nhà giáo thêm yên tâm cống hiến…

 

2. Vậy mà các cơ quan quản lý giáo dục đang làm khổ giáo viên đủ trò

 

Bao lâu nay bày trò “Thi giáo viên dạy giỏi” cấp trường, cấp huyện/quận, cấp tỉnh... rồi “Thi đua" đủ mọi thứ; bình bầu, đánh giá giáo viên theo bao nhiêu tiêu chí, khiến hoạt động giảng dạy của giáo viên bị rối nhiễu; người thầy giáo phân tán tâm trí, hao phí thời gian, sức lực vào những chuyện vô bổ, thậm chí gian dối... Những hoạt động đó thường gây không khí căng thẳng, tiêu cực trong môi trường sư phạm của nhà trường. 

 

Nghe nói nhiều Phòng giáo dục, nhiều Hiệu trưởng trở thành “quan lớn" ức hiếp giáo viên, gây nhiều nỗi bức xúc cho các Thầy, Cô giáo. Nghe nói có nơi bắt các cô giáo đi “tiếp khách" hầu hạ quan chức(?). Hỏng quá! 

 

Đặc biệt là Bộ, rồi các Sở quy định giáo viên phải học thêm bao nhiêu chứng chỉ mới được công nhận là giáo viên chính. Đây là trò làm khổ giáo viên, làm nhục giáo viên và làm giàu cho “nhóm lợi ích” ăn tiền trên mồ hôi nước mắt của giáo viên. Tôi đã nói ở trên, người đã tốt nghiệp Trường/Khoa Sư phạm ra làm giáo viên, sau thời gian tập sự, họ đã đủ điều kiện, không cần bất cứ Chứng chỉ nào nữa. Họ thiếu, yếu cái gì thì sẽ tự bồi dưỡng tại cơ sở…

 

Tôi có rất nhiều bằng chứng các giáo viên cung cấp: Họ bị bắt buộc đi học một cách qua loa, để nộp tiền và nhận mấy cái Chứng chỉ về vứt xó…

 

Tất nhiên cần những Tiêu chuẩn Nhà giáo, ai không còn xứng đáng thì đưa ra khỏi ngành, nhưng không vì thế mà làm như “khủng bố" tất cả cả đội ngũ giáo viên!

 

3. Mấy kiến nghị

 

3.1. Đề nghị Bộ trưởng TINH GIẢN BỘ MÁY các cơ quan quản lý giáo dục; càng lắm người, họ càng nghĩ ra nhiều trò có hại: Họ soạn ra bao nhiêu văn bản sai trái, có hại; họ tổ chức nhiều cuộc họp hành vô bổ… Đặc biệt xin Bộ trưởng kiến nghị các cấp có thẩm quyền bỏ ngay các Phòng giáo dục Quận/Huyện đi! Thêm cấp quản lý này chỉ bày việc ra làm khổ giáo viên, nhiều chuyện tồi lắm, không muốn kể ra đây! Thời đại 4.0, Bộ, Sở giáo dục thông tin trực tiếp đến các trường, vừa nhanh, vừa chính xác, không cần cấp trung gian.

 

3.2. Bãi bỏ ngay việc bắt giáo viên HỌC CÁC CHỨNG CHỈ và CẢI TIẾN CÁCH ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN. Nên bỏ việc Thi giáo viên giỏi các cấp; không bỏ được Thi đua thì tinh giản các tiêu chuẩn càng ít càng tốt; nghiên cứu việc đánh giá giáo viên sao cho nhẹ nhàng, thực chất. Cần thấy rằng, dẫu là Chiến sĩ Thi đua, Tiên tiến xuất sắc, Tiên tiến hay Bình thường không có giá trị gì, nếu học sinh và đồng nghiệp không tín nhiệm. 

 

Người Thầy giáo không cần danh hiệu nào, ngoài sự kính trọng, yêu mến của học sinh và sự tin tưởng của Cha mẹ học sinh, của đồng nghiệp. Đó mới là điều người giáo viên cần tu dưỡng, rèn luyện, chứ không phải bày đặt mấy cái danh hiệu thi đua tào lao! 

 

3.3. Việc học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên là việc thường xuyên và hết sức quan trọng, nhưng hãy tiến hành BỒI DƯỠNG TẠI TRƯỜNG bằng hình thực trực tiếp hay trực tuyến, hoặc qua các băng hình… Tránh hết sức bắt giáo viên tập trung nghe giảng bồi dưỡng rồi "mua" Chứng chỉ!. Mỗi trường học, Tổ bộ môn là một đơn vị tự bồi dưỡng hiệu quả nhất. Qua hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mỗi giáo viên, mỗi nhà trường.

 

3.4. Một trong những dấu ấn của nhiệm kỳ này, mong Bộ trưởng hãy CẢI THIỆN HÌNH ẢNH và ĐỜI SỐNG CỦA NHÀ GIÁO. Như Cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên nói, nhiều giáo viên yêu thích nghề vì “được nghỉ hè ba tháng" và là “nghề Tự do"... Hãy tôn trọng lao động sư phạm có tính độc lập, tự do của người giáo viên và do đó người giáo viên càng có ý thực tự chủ vươn lên xứng đáng với trách nhiệm của mình; càng o ép, kiểm soát làm người giáo viên nhỏ bé đi, hèn mọn đi, thì sự nghiệp giáo dục càng hỏng.

 

Bộ trưởng hãy tìm cách cải thiện đời sống cho giáo viên, nhất là các Thầy, Cô giáo ở những vùng khó khăn. Không thể để xã hội nhìn nhà giáo tội nghiệp như những kẻ cần được bố thí! Hãy kiên quyết làm sao để giáo viên được tăng lương.

 

Thưa Bộ trưởng, 

 

Tôi tâm đắc với câu Bộ trưởng nói: “Bỏ văn mẫu", “Dạy THẬT, Học THẬT, Nhân tài THẬT", nhưng trước hết toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh phải NÓI THẬT đã!

 

Thư này tôi nói rất THẬT, và xin nhắc lại: Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy từ Bộ trưởng đến Hiệu trưởng hãy kính trọng các Thầy, Cô giáo đang đứng lớp.

 

Kính Chúc Bộ trưởng Mạnh khoẻ, Hạnh phúc! 

 

Mạc Văn Trang

Ngụ tại Khu căn hộ Phú Mỹ Thuận, xã Phú Xuân,

huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh

 

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2021

ĐỨC PHẬT DẠY VỀ VÔ THƯỜNG

ĐỨC PHẬT DẠY VỀ VÔ THƯỜNG

Dù là cha mẹ anh em, hay những người bạn rất thân từng vào sinh ra tử, khi cái chết đến, không ai có thể đi chung với ai được, người nào cũng phải đi đơn độc một mình.
Thời gian sẽ làm phai mờ đi nhiều thứ, nhưng cũng chính thời gian sẽ làm rõ được nhiều điều.
Người đời thường thấy vui khi hôm nay đi trước được người này, rồi ngày mai lại thấy buồn khi phải đi sau người khác, hay hạnh phúc khi có ai đó đi chung, đâu biết, cuối cùng, dù muốn hay không, ai cũng phải đi một mình, đơn độc bước qua cánh cửa tử mà mình lại chưa chuẩn bị được điều gì cho ngày ấy cả. Cả một đời buồn vui hoàn toàn phụ thuộc vào người.
Cuộc sống là những câu chuyện duyên sinh, tất cả đều phải tựa vào nhau để sinh khởi và tồn tại, nhưng việc một người bắt bản thân phải phụ thuộc vào nhiều thứ bên ngoài mới có thể bình yên lại là một câu chuyện khác, rất khác.
Chỉ khi nào có thể bình yên một mình, không phụ thuộc vào những điều bên ngoài, khi đó mới là bình yên thực sự, đó là giải thoát. Khi đó sẽ đủ bình thản bước qua cánh cửa tử một mình, không phải hoang mang.
Ai biết cách tựa vào bản thân mình để bình yên, biết cách sống một mình mà hạnh phúc, thì cũng sẽ biết cách bước qua cánh cửa tử một mình trong bình yên.
Cuộc sống như một chuyến tàu, có đủ hạng người trên đó, có người bước lên, có người bước xuống, có người còn ngồi lại, nhưng cuối cùng ai cũng phải rời tàu, rồi về nhà một mình.
Không có gì tàn nhẫn bằng việc chúng ta bỏ rơi chính mình bằng cách bắt bản thân phải phụ thuộc vào người khác để bình yên.
Nguồn: Sưu tầm.

PHÁP TU CHO NGƯỜI GIÀ VÀ NGƯỜI BỆNH

PHÁP TU CHO NGƯỜI GIÀ VÀ NGƯỜI BỆNH

Người già và người bệnh nặng là hai đối tượng không có đầy đủ điều kiện tốt nhất để tu hành theo đúng trình tự thứ lớp của Đạo đế nhằm đi đến chứng đạo rốt ráo, để có thể làm chủ hoàn toàn Sinh Già Bệnh Chết bằng năng lực Tứ thiền. Do vậy lúc sắp lâm chung thì họ chỉ có thể tu pháp giữ gìn tâm bất động để vượt qua các ác pháp và các cảm thọ khốc liệt, nhằm làm chủ nhân quả, chấm dứt tái sinh luân hồi mà thôi. Muốn vậy họ cần phải được trang bị đầy đủ tri kiến, nghị lực và lòng gan dạ để đối trị với nhân quả khốc liệt vào giai đoạn cuối cùng, đồng thời họ cũng cần có được những sự trợ duyên, trợ lực nhất định từ các đạo hữu tương ưng trong chùm nhân quả với nhau. Các điều kiện cần thiết không có gì ngoài pháp Như Lý Tác Ý và tối thiểu một người trợ duyên. Cụ thể là:

I. Pháp Như Lý Tác Ý:

1- “Các pháp là vô thường, không có gì là mãi mãi”.
2- “Các pháp là vô ngã, không phải là ta, không phải của ta”.
3- “Thế gian là trống rỗng, vô chủ, vô sở hữu, là nô lệ cho khát ái, là khổ đau vô cùng tận”.
4- “Gia đình là một chùm nhân quả gặp nhau để vay trả, trả vay. Còn duyên thì ở, hết duyên thì đi. Nghiệp ai nấy chịu, không ai lo thay cho ai được”.
5- “Bệnh đau mặc kệ bệnh đau. Bệnh đau này không phải là ta, không phải của ta”.
6- “Chết mặc kệ chết. Cái chết này không phải của ta”.
7- “Chết để chấm dứt sinh tử luân hồi đau khổ mãi”.
8- “Thọ là vô thường. Cái bệnh (nói rõ tên) này phải đi đi! An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít (hoặc đưa tay) vô. An tịnh tâm hành tôi biết tôi thở (hoặc đưa tay) ra”.
9- “Tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự”.
Tác ý xong thì giữ tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự, bệnh đau cứ mặc bệnh đau, đừng nghĩ đến cơn đau thì cường độ cơn đau sẽ giảm đi rất nhiều.

II. Người Thiện hữu trợ duyên:

Khi sắp đến ngày lâm chung, cần tối thiểu một người trợ duyên, trợ lực, lo cơm nước, thuốc thang, tắm rửa và nhắc nhở người bệnh các câu tác ý như trên.

Những ai có công đức trợ duyên giúp cho một người được giải thoát, chấm dứt luân hồi sinh tử thì người đó được hưởng phước báu vô lượng không thể đo lường được. Phước lành ấy sẽ giúp cho bản thân người đó có được nhân duyên lành, có niềm tin và nội lực mạnh mẽ hơn để tiếp tục sống thanh thản và có cơ hội giải thoát trong tương lai. Một người gieo duyên, trợ duyên, trợ lực cho một người được giải thoát tức là họ đang gieo nhân giải thoát cho chính mình, nhất định họ sẽ được giải thoát trong tương lai không xa.